Thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi trên phạm vi toàn quốc

(Người Chăn Nuôi) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Văn bản hợp nhất số 70/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư số 66/2025/TT-BNNMT ngày 21/11/2025 và các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT, quy định về chăn nuôi động vật khác thuộc Danh mục động vật khác được phép chăn nuôi và truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi.

Theo quy định, danh mục động vật khác được phép chăn nuôi gồm 7 đối tượng là giun quế, ruồi lính đen, dế, bò cạp, vịt trời, dông và tằm. Đây là những đối tượng vật nuôi đang được nhiều địa phương và doanh nghiệp quan tâm phát triển do có giá trị kinh tế cao, phù hợp với xu hướng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Thông tư quy định rõ các yêu cầu đối với cơ sở chăn nuôi giun quế, ruồi lính đen, dế và bò cạp. Theo đó, cơ sở chăn nuôi phải có diện tích phù hợp, bảo đảm không ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường; khu vực nuôi phải có hàng rào bảo vệ. Chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi phải phù hợp với từng loại vật nuôi.

Truy xuất nguồn gốc trứng gà

Truy xuất nguồn gốc thương hiệu trứng gà thảo dược tại Phú Thọ. Ảnh: Sở NN&MT Phú Thọ.

Đáng chú ý, các cơ sở phải xây dựng và lưu giữ hồ sơ ghi chép toàn bộ quá trình chăn nuôi, sử dụng thức ăn và các dữ liệu liên quan nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc. Hồ sơ phải được lưu giữ tối thiểu một năm sau khi kết thúc chu kỳ nuôi.

Thông tư cũng nghiêm cấm việc sử dụng phân hoặc xác động vật mắc bệnh làm chất nền để nuôi giun quế, ruồi lính đen, dế và bò cạp khi sản phẩm được sử dụng làm thực phẩm cho người hoặc làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi.

Đối với các cơ sở sử dụng ruồi lính đen hoặc dế nhập khẩu làm giống, chủ cơ sở phải lưu giữ đầy đủ hồ sơ do bên xuất khẩu cung cấp để phục vụ thanh tra, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc khi cần thiết.

Một điểm mới đáng chú ý là tổ chức, cá nhân nuôi ruồi lính đen và bò cạp vì mục đích thương mại phải thông báo phương án chăn nuôi, phương án quản lý và kiểm soát nguy cơ rủi ro với cơ quan có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao thực hiện thủ tục hành chính phải công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử trong thời hạn một ngày làm việc.

Đối với hoạt động chăn nuôi vịt trời và dông, Thông tư yêu cầu tổ chức, cá nhân chỉ được nuôi các đối tượng có nguồn gốc hợp pháp và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nguồn gốc vật nuôi. Cơ sở chăn nuôi phải xây dựng chuồng trại phù hợp với tập tính sinh học của vật nuôi, đáp ứng yêu cầu về an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và an toàn cho con người cũng như các vật nuôi khác. Đồng thời, chủ cơ sở phải lập sổ sách theo dõi và lưu trữ đầy đủ thông tin phục vụ truy xuất nguồn gốc trong suốt quá trình chăn nuôi.

Thông tư cũng dành một chương quy định về quản lý chăn nuôi tằm. Theo đó, các hoạt động sản xuất, mua bán giống tằm; khảo nghiệm, kiểm định giống tằm mới được thực hiện theo các quy định hiện hành của Luật Chăn nuôi. Đối với giống tằm tạo ra bằng công nghệ biến đổi gen hoặc nguồn gen tằm biến đổi gen nhập khẩu, việc quản lý phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đa dạng sinh học.

Một trong những nội dung trọng tâm của Thông tư là xây dựng cơ chế quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi thông qua Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi.

Theo đó, các cơ sở chăn nuôi thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi trên hệ thống dữ liệu quốc gia và được cấp mã số định danh cơ sở chăn nuôi. Chủ cơ sở sử dụng mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số định danh cá nhân để đăng ký tài khoản và thực hiện kê khai trực tuyến.

Sau khi hoàn thành kê khai, hệ thống sẽ tự động cấp mã số định danh cho cơ sở. Đối với các cơ sở tham gia truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi, hệ thống cũng thực hiện cấp mã số sản phẩm chăn nuôi để phục vụ quản lý xuyên suốt chuỗi sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Thông tư quy định mã số định danh cơ sở chăn nuôi và mã số sản phẩm chăn nuôi được xây dựng theo tiêu chuẩn GS1 quốc tế, bảo đảm tính thống nhất và khả năng kết nối với các hệ thống truy xuất nguồn gốc khác. Cùng với đó, hệ thống cũng có cơ chế thu hồi hoặc cấp lại mã số trong trường hợp cơ sở vi phạm điều kiện chăn nuôi, khai báo sai thông tin hoặc không đáp ứng yêu cầu quản lý.

Thông tư khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi phù hợp với các tiêu chuẩn quốc gia về truy xuất nguồn gốc.

Để bảo đảm khả năng truy xuất, cơ sở sản xuất phải lưu trữ thông tin về tên sản phẩm, số lô sản xuất, sản lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hình ảnh sản phẩm, các công đoạn sản xuất, tiêu chuẩn áp dụng và tình hình phân phối sản phẩm.

Đối với cơ sở kinh doanh, hệ thống dữ liệu phải thể hiện rõ nguồn cung cấp sản phẩm, số lượng nhập – xuất – tồn và thông tin khách hàng hoặc đại lý phân phối.

Dữ liệu truy xuất nguồn gốc tối thiểu phải bao gồm tên sản phẩm, hình ảnh, thông tin đơn vị sản xuất, địa chỉ, các công đoạn sản xuất, thời gian thực hiện, mã truy xuất, thương hiệu và các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng.

Người tiêu dùng có thể tra cứu thông tin sản phẩm thông qua mã QR hoặc mã truy xuất được công bố trên hệ thống. Các dữ liệu truy xuất được quản lý tập trung tại Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi và sẵn sàng chia sẻ với các hệ thống truy xuất nguồn gốc khác.

Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 5/1/2026. Đối với các cơ sở chăn nuôi động vật khác đã hoạt động trước thời điểm Thông tư có hiệu lực nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mới, thời gian hoàn thiện là 12 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực. Các tổ chức, cá nhân đã xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc trước đó cũng phải rà soát, cập nhật và bổ sung thông tin theo quy định trong cùng thời hạn này.

Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *