Quản lý mật độ chăn nuôi cần tính đến sức chịu tải môi trường

(Người Chăn Nuôi) – Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, chiều 12/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có kiến nghị về đổi mới cách quản lý mật độ chăn nuôi theo hướng gắn với sức chịu tải thực tế.

Không chỉ “đếm” tổng đàn

Đóng góp vào nội dung sửa đổi Luật Chăn nuôi, đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai) cho rằng, cần đổi mới cách quản lý mật độ chăn nuôi theo hướng gắn với sức chịu tải thực tế, tạo dư địa cho chăn nuôi công nghệ cao nhưng vẫn kiểm soát tác động đến môi trường.

Theo đại biểu, pháp luật hiện hành đã có những công cụ quản lý quy mô, mật độ và kê khai hoạt động chăn nuôi. Trong lần sửa đổi này, Chính phủ đề xuất phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với trang trại quy mô lớn. Thông qua kê khai, cơ quan quản lý có thể nắm được số lượng đàn vật nuôi, qua đó phục vụ kiểm soát cung – cầu.

Quốc hội khóa XVI

Chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 12/8. Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Tuy nhiên, đại biểu Trịnh Xuân An cho rằng, nắm được tổng đàn và điều tiết được tổng đàn là hai vấn đề khác nhau. Các quy định hiện nay chủ yếu tập trung quản lý từng cơ sở chăn nuôi, trong khi chưa có công cụ đủ rõ để xử lý trường hợp tổng năng lực sản xuất của một ngành hàng hoặc một vùng vượt quá nhu cầu thị trường.

Từ thực tế này, đại biểu đề nghị bổ sung vào Luật nguyên tắc quản lý, điều tiết năng lực sản xuất chăn nuôi dựa trên dữ liệu, dự báo và cân đối cung – cầu; đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể các cấp độ điều tiết.

Theo đó, ở trạng thái bình thường, cơ quan quản lý cần theo dõi, dự báo và công khai dữ liệu để thị trường tự điều chỉnh. Khi năng lực sản xuất vượt ngưỡng cảnh báo, có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát việc tăng công suất, mở rộng hoặc xây mới cơ sở quy mô rất lớn, đồng thời điều chỉnh đàn giống.

Chỉ trong trường hợp mất cân đối nghiêm trọng mới áp dụng các biện pháp như chỉ tiêu hoặc hạn ngạch có thời hạn, với phạm vi, điều kiện và căn cứ rõ ràng. Cách tiếp cận này, theo đại biểu, sẽ giúp Nhà nước chủ động điều tiết từ sớm thay vì chỉ xử lý hậu quả khi thị trường đã xảy ra tình trạng dư thừa.

Một nội dung khác được đại biểu Trịnh Xuân An lưu ý là quản lý tổng đàn cần được đặt trong mối liên hệ với quy hoạch đất và sử dụng đất cho chăn nuôi công nghệ cao. Đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát, bố trí quỹ đất phù hợp; trước mắt cho phép sử dụng hết diện tích đất dành cho chăn nuôi công nghệ cao, tập trung đã được đăng ký hoặc có chủ trương thực hiện dự án.

Cùng với đó, quản lý chăn nuôi cần được xem xét theo không gian vùng, miền, nhằm bảo đảm cân đối giữa các khu vực và khai thác hiệu quả những vùng có quỹ đất rộng, phù hợp với chăn nuôi quy mô lớn như Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Theo đại biểu Trịnh Xuân An, cách quản lý này có thể giúp hạn chế việc hành chính hóa hoạt động sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để Nhà nước có công cụ điều tiết sớm dựa trên dữ liệu và diễn biến thực tế của thị trường.

Không chỉ tính trên diện tích đất

Đối với Điều 53 Luật Chăn nuôi về mật độ chăn nuôi, đại biểu Trịnh Xuân An đánh giá, cơ quan soạn thảo đã có giải trình về phương pháp quản lý theo số đơn vị vật nuôi trên một héc-ta đất nông nghiệp, đồng thời quy định mật độ tối đa theo vùng.

Tuy nhiên, theo đại biểu, cách tính này chủ yếu phù hợp với mô hình chăn nuôi truyền thống. Trong điều kiện chăn nuôi công nghệ cao phát triển, đặc biệt với những mô hình nhiều tầng, một diện tích đất không lớn vẫn có thể tạo ra diện tích sàn và năng lực sản xuất rất lớn.

Nếu chỉ lấy diện tích đất làm mẫu số để tính mật độ, quy mô hoạt động và những tác động thực tế của cơ sở chăn nuôi có thể chưa được phản ánh đầy đủ. Vì vậy, đại biểu đề nghị không bỏ tiêu chí diện tích đất, nhưng cần sửa đổi Điều 53 theo hướng quản lý mật độ chăn nuôi gắn với sức chịu tải thực tế.

Theo đề xuất này, diện tích đất vẫn là một tiêu chí, song cần xem xét đồng thời tổng quy mô đàn, công nghệ chuồng trại, năng lực xử lý chất thải, phát thải, an toàn sinh học, khoảng cách an toàn và sức chịu tải môi trường.

Luật nên quy định nguyên tắc, còn Chính phủ hoặc Bộ trưởng quy định phương pháp tính cụ thể. Qua đó vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa tạo không gian phát triển cho các mô hình chăn nuôi công nghệ cao.

Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn khi ngành chăn nuôi đang chuyển dần từ phương thức truyền thống sang các mô hình ứng dụng công nghệ, đòi hỏi cách tiếp cận quản lý phù hợp hơn với năng lực sản xuất thực tế thay vì chỉ dựa vào một chỉ tiêu về diện tích.

Siết quản lý nguồn gen vật nuôi quý, hiếm

Cũng liên quan đến Luật Chăn nuôi, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú (Đoàn Nghệ An) góp ý về sửa đổi khoản 2 Điều 15 liên quan đến trao đổi quốc tế về nguồn gen giống vật nuôi.

Dự thảo Chính phủ trình đề xuất chuyển thẩm quyền chấp thuận việc trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi thuộc Danh mục cấm xuất khẩu và nguồn gen quý, hiếm của Việt Nam cho bên thứ ba, từ Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường sang Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi lưu giữ nguồn gen.

Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đánh giá, chủ trương phân quyền là phù hợp, nhưng cho rằng cần quy định chặt chẽ hơn do đây là nhóm nguồn gen có giá trị đặc biệt. Theo đó, đại biểu đề nghị làm rõ việc chấp thuận theo Luật Chăn nuôi không thay thế nghĩa vụ về tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích theo Luật Đa dạng sinh học; đồng thời bổ sung nguyên tắc bảo đảm bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học, an toàn sinh học và lợi ích quốc gia ngay trong Luật. Các quyết định của địa phương cũng cần được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia để bảo đảm Trung ương có thể theo dõi thống nhất.

Đại biểu Lê Công Đỉnh (Đoàn Tây Ninh) cũng đồng tình với chủ trương phân cấp, nhưng nhấn mạnh nguồn gen thuộc Danh mục cấm xuất khẩu và nguồn gen quý, hiếm là loại tài sản quốc gia đặc thù, nhạy cảm, cần được quản lý chặt chẽ và thống nhất.

Đại biểu đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành bộ tiêu chí, nguyên tắc kỹ thuật áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước để làm căn cứ cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định.

Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *