(Người Chăn Nuôi) – Dù duy trì đà tăng trưởng sản lượng tương đối ổn định, song ngành gia cầm Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 đang phải gồng mình trước gọng kìm: chi phí đầu vào leo thang và giá bán liên tục chạm đáy.
Chi phí cao, giá bán thấp
Theo Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, bốn tháng đầu 2026, tổng đàn gia cầm cả nước ước tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu chiến sự Trung Đông được kiểm soát trong quý III/2026, dự báo sản lượng thịt gia cầm cả năm 2026 sẽ đạt khoảng 2,74 triệu tấn, tăng 5,4 và sản lượng trứng sẽ đạt 22,5 tỷ quả, tăng gần 5%.
Gà công nghiệp lông trắng là nhóm sản phẩm ghi nhận mức tăng mạnh nhất, ước tăng khoảng 7 – 8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, đây là nhóm bị ảnh hưởng nặng bởi tình trạng dư cung. Do chu kỳ nuôi ngắn (khoảng 40 ngày), sản lượng dồn từ cuối Quý I sang tháng 4 khiến giá tại khu vực phía Nam giảm sâu, có lúc chỉ còn 22.000 – 24.000 đồng/kg. Số lượng gà trắng tập trung tại các tập đoàn lớn (C.P, De Heus, Japfa, CJ…) với quy mô chuồng kín, kiểm soát tốt dịch bệnh nhưng đang gặp áp lực tiêu thụ rất lớn.
Trong khi đó sản xuất gà ta thả vườn, gà lông màu nuôi công nghiệp tăng trưởng ổn định hơn, ước tăng khoảng 3 – 4%. Giá gà màu ổn định hơn gà trắng nhưng cũng không nằm ngoài xu thế giảm chung của thị trường thịt. Người nuôi nhỏ lẻ bắt đầu dè dặt trong việc tái đàn từ giữa tháng 4 do biên lợi nhuận thấp.
Đàn thủy cầm duy trì mức tăng nhẹ khoảng 2,5%, tập trung nhiều ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng theo mô hình nuôi bán chăn thả và nuôi khô.
Sản lượng trứng gia cầm ước đạt khoảng 7,3 tỷ quả sau 4 tháng (tăng khoảng 4,8 – 5%). Sản lượng thịt gia cầm quý I đạt khoảng 660,8 nghìn tấn. Dự kiến hết tháng 4 sẽ đạt 880.000 – 900.000 tấn.
Dù sản lượng tăng trưởng mạnh, nhưng ngành gia cầm 4 tháng đầu năm 2026 đang đối mặt với nghịch lý “được mùa mất giá”, đặt áp lực lớn lên việc điều tiết nguồn cung trong các tháng tiếp theo.
Giá gia cầm đang có sự phân hóa rõ rệt giữa các miền do chi phí vận chuyển và nhu cầu tiêu thụ tại chỗ. Giá gà công nghiệp tại miền Nam hiện đang ở mức thấp nhất cả nước do nguồn cung từ các trang trại lớn rất dồi dào, trong khi sức mua của các khu công nghiệp vẫn chưa phục hồi hoàn toàn. Với giá bán gà trắng nêu trên, người nuôi đang chịu lỗ 3.000 – 5.000 đồng/kg. Riêng gà màu nuôi công nghiệp với giá thành khoảng 42.000 – 46.000 đồng/kg thì người nuôi đang ở mức hòa vốn hoặc lãi nhẹ.
Trong khi giá bán sản phẩm gia cầm đều giảm, nhưng giá thức ăn chăn nuôi (TĂCN) các loại đã tăng từ 10 – 15% so với đầu năm do giá nguyên liệu nhập khẩu (ngô, khô đậu tương) biến động. Chi phí này hiện chiếm tới 60 – 70% giá thành sản xuất, gây khó khăn lớn cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.
Đặc biệt, giá trứng gia cầm tại trại giảm sâu khoảng 25 – 30% so với đầu năm, chỉ còn dao động từ 1.200 – 1.400 đồng/quả. Nguyên nhân chính do cung vượt cầu và sức mua nội địa chưa cải thiện đáng kể.

Chuyển dịch rõ nét hoạt động xuất, nhập khẩu
Về hoạt động xuất, nhập khẩu gia cầm trong 4 tháng đầu năm 2026, ghi nhận những chuyển dịch rõ nét, đặc biệt là sự bứt phá ở mảng xuất khẩu sản phẩm chế biến. Hồng Kông tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm hơn 51% tổng trị giá xuất khẩu thịt của Việt Nam. Hàn Quốc một dấu mốc quan trọng vào cuối tháng 4/2026 khi Việt Nam và Hàn Quốc chính thức công bố mở cửa thị trường cho sản phẩm thịt gà chế biến. Trước mắt, mỗi nước có 2 doanh nghiệp được cấp phép để bắt đầu các lô hàng đầu tiên. Hiện tại, Hàn Quốc mới chỉ mở cửa cho nhóm thịt gà đã qua xử lý nhiệt (processed chicken), bao gồm các loại: Gà viên (nuggets), gà rán. Ở chiều ngược lại, phía Hàn Quốc cũng đã được cấp phép đưa sản phẩm gia cầm chế biến sang Việt Nam với 2 đơn vị lớn là Harim và CJ CheilJedang.
Việc mở cửa thị trường này được kỳ vọng sẽ giúp nâng giá trị xuất khẩu ngành chăn nuôi Việt Nam, trong bối cảnh nước ta đã xuất khẩu gà chế biến thành công sang 9 thị trường khác như Nhật Bản, Singapore và Hồng Kông… Đối với Singapore, các cơ quan chức năng đang tích cực đàm phán để mở cửa cho sản phẩm trứng thương phẩm và thịt gia cầm tươi, đông lạnh sau khi đã xuất khẩu thành công thịt chế biến sang thị trường này vào cuối năm 2025.
Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 4 tháng đầu năm đạt khoảng 245 triệu USD (tăng hơn 45,5% so với cùng kỳ năm 2025). Thịt gia cầm và sản phẩm chế biến, ước đạt 6.500 – 7.000 tấn. Về giá trị riêng thịt gà chế biến đạt khoảng 35 triệu USD. Trứng gia cầm đạt khoảng 15 – 18 triệu quả (bao gồm trứng tươi, trứng muối và trứng bắc thảo), chủ yếu sang thị trường Hồng Kông, Singapore và Nhật Bản. Gà giống xuất khẩu sang Lào và Campuchia đạt mức tăng trưởng ổn định khoảng 15%.
Tuy vậy, Việt Nam tiếp tục nhập khẩu một lượng lớn thịt gia cầm giá rẻ và nguyên liệu để duy trì chuỗi sản xuất. Dự báo cả năm 2026, có thể nhập khoảng 300.000 tấn thịt gia cầm. Trong 4 tháng đầu năm thịt gà đông lạnh nhập khẩu khoảng 85.000 – 90.000 tấn (chiếm gần 40% tổng lượng thịt nhập khẩu các loại). Trong đó, đùi gà, cánh gà và chân gà chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 70%). Thị trường nhập khẩu chính là Mỹ (35%), Brazil (25%), Ba Lan và các nước EU khác (20%).
Tổng kim ngạch nhập khẩu và nguyên liệu đạt khoảng 1,35 tỷ USD. Trong đó, sản lượng ngô nhập khẩu 3,2 triệu tấn (nguồn chính từ Brazil và Argentina). Sản lượng khô dầu đậu tương đạt khoảng 1,6 triệu tấn.
Dù kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhưng giá trị tuyệt đối vẫn thấp hơn nhiều so với kim ngạch nhập khẩu.

Áp lực dư cung kết hợp cùng chi phí logistics và nguyên liệu đầu vào tăng cao đang khiến đà tăng trưởng sản lượng của ngành gia cầm trong 4 tháng đầu năm 2026 trở nên kém bền vững.
Giải pháp thích ứng
Để ứng phó với các biến động từ chiến sự Trung Đông và sự bất ổn của chuỗi cung ứng toàn cầu năm 2026 – 2027, ngành gia cầm Việt Nam cần chuyển dịch từ chiến lược “tăng trưởng sản lượng” sang “tăng cường khả năng chống chịu”.
Thứ nhất, tối ưu hóa chuỗi giá trị và giảm chi phí sản xuất. Tái cấu trúc sản xuất, kết nối “chuỗi cung ứng ngắn”. Cần có chính sách hỗ trợ kết nối trực tiếp giữa trang trại và các hệ thống siêu thị, bếp ăn công nghiệp nhằm giảm chi phí trung gian (luôn chiếm 15 – 20% giá bán lẻ). Về lâu dài Việt Nam phải tập trung vào việc hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh, tăng cường chế biến sâu (thịt đông lạnh, chế biến sẵn) để kéo dài thời gian bảo quản thay vì chỉ tiêu thụ thịt tươi, nhằm ổn định thị trường. Đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân. Khi có biến động, doanh nghiệp sẽ đóng vai trò bà đỡ về vốn và kỹ thuật, tránh tình trạng treo chuồng hàng loạt.
Áp dụng nghiêm ngặt các chuẩn VietGAP, GlobalGAP để giảm tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh, vốn là rủi ro kép bên cạnh rủi ro địa chính trị. Số hóa trang trại. Sử dụng cảm biến và AI để tối ưu hóa lượng thức ăn và điện năng, giúp giảm 5 – 10% chi phí vận hành.
Thứ hai, chiến lược thị trường linh hoạt. Thúc đẩy tiêu thụ nội địa để giảm thiểu tác động từ việc gián đoạn xuất khẩu. Xây dựng các chiến dịch truyền thông về thịt gà/trứng là nguồn đạm giá rẻ, an toàn trong thời kỳ khủng hoảng để duy trì sức mua trong nước. Khai thác “khoảng trống” xuất khẩu: Khi Brazil hay Mỹ gặp khó khăn vận chuyển sang Châu Á qua đường Biển Đỏ, Việt Nam cần tận dụng lợi thế địa lý để đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc. Chinh phục thị trường Halal: Đầu tư bài bản để lấy chứng chỉ Halal, sẵn sàng cung ứng cho các quốc gia Hồi giáo tại Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia) và Trung Đông khi họ tìm kiếm nguồn cung thay thế ngoài vùng chiến sự.
Thứ ba, tự chủ nguồn nguyên liệu TĂCN. Xung đột tại Trung Đông làm tăng chi phí vận tải và bảo hiểm, dẫn đến rủi ro thiếu hụt nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất TĂCN. Doanh nghiệp đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung và tìm kiếm các tuyến vận tải thay thế. Đẩy mạnh công nghệ chế biến bột cá, bột thịt, tôm và các phụ phẩm từ ngành lúa gạo, thủy sản để thay thế một phần nguyên liệu nhập khẩu. Khuyến khích các tập đoàn lớn xây dựng hệ thống kho bãi quy mô lớn để tích trữ nguyên liệu khi giá thế giới hạ nhiệt, tránh cú sốc giá do chiến sự.
Thứ tư, về chính sách và tài chính. Gia hạn nợ và ưu đãi lãi suất: Đề xuất các ngân hàng thương mại tiếp tục thực hiện chính sách gia hạn nợ, khoanh nợ, gói tín dụng lãi suất thấp cho cho hộ chăn nuôi và doanh nghiệp đang bị thua lỗ; ưu tiên nguồn tín dụng ngắn hạn cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Hỗ trợ xây dựng vùng an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn WOAH. Đây là chinh sách cốt lõi để mở rộng thị trường xuất khẩu thịt và trứng gia cầm, giúp giảm áp lực cho thị trường nội địa, nhất là trứng gia cầm. Rút ngắn thủ tục kiểm tra, kiểm dịch hỗ trợ chi phí logistics cho các lô hàng trọng điểm; tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm thịt gà đông lạnh, đặc biệt kiểm soát chặt chẽ gia cầm giống và gà đẻ loại nhập lậu qua biên giới.
Nguyễn Thanh Sơn
Chủ tịch VPA
