(Người Chăn Nuôi) – Sáng 6/11, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk, Cục Chăn nuôi và Thú y, Cục Môi trường cùng các đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn “Phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững gắn với bảo vệ môi trường khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”.
Tại diễn đàn, các đại biểu tập trung đánh giá thực trạng quản lý môi trường trong chăn nuôi, chia sẻ mô hình sản xuất an toàn sinh học, công nghệ xử lý chất thải và giải pháp tận dụng phụ phẩm theo hướng kinh tế tuần hoàn. Những vướng mắc trong thực hiện quy định về bảo vệ môi trường, đặc biệt là tái sử dụng nước thải sau xử lý, cũng được đưa ra thảo luận.

Toàn cảnh Diễn đàn. Ảnh: Báo NN&MT
Theo ông Nguyễn Thành Yên, Phó trưởng phòng Chính sách – Pháp chế (Cục Môi trường), công tác quản lý chất thải chăn nuôi đang chuyển dần từ tư duy xử lý nước thải để xả ra môi trường sang kiểm soát nguồn thải, tăng cường tái sử dụng phục vụ sản xuất. Nước thải chăn nuôi có hàm lượng chất hữu cơ cao, cần được xử lý bằng các giải pháp công nghệ phù hợp trước khi đưa vào những mục đích sử dụng như tưới cây, rửa chuồng.
Đáng chú ý, nếu được xử lý và tái sử dụng đúng cách, lượng nước thải chăn nuôi xả ra nguồn tiếp nhận có thể giảm 50 – 70%. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể về lượng nước thải phù hợp với từng diện tích, loại cây trồng, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm đất nếu sử dụng không đúng quy trình.
Đại diện Cục Môi trường đề xuất rà soát những quy định còn chồng chéo, cập nhật quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với công nghệ chăn nuôi hiện đại; tăng cường kiểm tra, giám sát theo mức độ rủi ro và khuyến khích ứng dụng công nghệ xử lý mùi, tách phân tự động, vi sinh. Đồng thời, cần thúc đẩy liên kết giữa trang trại, doanh nghiệp sản xuất phân bón và các vùng trồng trọt để tận dụng chất thải chăn nuôi làm phân hữu cơ, năng lượng.
Từ thực tiễn hoạt động sản xuất, ông Phạm Thế Anh, Trưởng phòng Vận hành môi trường, Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam, cho biết doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc đăng ký phương án tưới bằng nước thải chăn nuôi sau xử lý do chưa có tiêu chuẩn cụ thể cho từng nhóm cây trồng và cách áp dụng tại các địa phương chưa thống nhất.
Do đó, doanh nghiệp kiến nghị sớm hoàn thiện hướng dẫn thực hiện QCVN 01-195:2022/BNNPTNT, đồng thời xem xét mở rộng phạm vi sử dụng nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn, không chỉ giới hạn trong khuôn viên trang trại mà có thể phục vụ tưới cây bên ngoài dự án khi đáp ứng các điều kiện kiểm soát về diện tích và phương án sử dụng. Đối với chất thải rắn, BAF đề xuất tạo điều kiện chuyển giao chất thải đã được thu gom, tách rắn – lỏng và xử lý sơ bộ cho các đơn vị có năng lực tiếp nhận để tiếp tục tái chế thành phân hữu cơ.
Ở góc độ ứng dụng công nghệ, bà Huỳnh Thị Phương Châu, Công ty Japfa Comfeed Việt Nam, chia sẻ, doanh nghiệp chú trọng kiểm soát chất lượng con giống, thức ăn và dịch bệnh nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi, giảm tác động đến môi trường. Việc tối ưu khẩu phần dinh dưỡng giúp vật nuôi chuyển hóa thức ăn hiệu quả hơn, qua đó giảm lượng chất thải và phát thải khí nhà kính. Doanh nghiệp cũng sử dụng men vi sinh, axit hữu cơ và enzyme thay thế một số giải pháp kháng sinh phòng bệnh; tăng cường thu gom, xử lý bao bì thức ăn và chất thải thú y theo quy định.
Một hướng nghiên cứu được De Heus Việt Nam giới thiệu là ứng dụng tảo đỏ Asparagopsis taxiformis làm phụ gia thức ăn cho bò thịt nhằm giảm phát thải khí metan. Theo bà Lê Hoàng Vân, Giám đốc mảng Đào tạo chăn nuôi heo của doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm trên 165 mẫu bước đầu cho thấy khả năng giảm tới 99,8% lượng khí metan. Doanh nghiệp dự kiến tiếp tục thử nghiệm trên bò thịt trong điều kiện thực tế để đánh giá khả năng ứng dụng.

Tổ hợp khu chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao DHN ở Tây Nguyên. Ảnh: De Heus
Về định hướng phát triển toàn ngành, ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, cho rằng, phát triển chăn nuôi bền vững cần được triển khai đồng bộ trên các phương diện kinh tế, sinh kế xã hội, bảo vệ môi trường và phúc lợi động vật. Đây cũng là những trụ cột được xác định trong Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Theo ông Đăng, bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, ngành cần đổi mới cách tiếp cận trong phát triển nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, tăng cường tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp và ứng dụng công nghệ vi sinh để tạo nguồn nguyên liệu đầu vào. Đồng thời, cần nâng cao năng lực nghiên cứu, chọn tạo giống trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu.
Đối với khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, TS. Nguyễn Trọng Tuyển, đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y, cho biết, 6 tỉnh trong khu vực hiện chiếm 19,03% đàn lợn, 13,09% đàn gia cầm, 11,68% đàn trâu và 37,24% đàn bò của cả nước. Trong đó, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng có nhiều lợi thế phát triển chăn nuôi tập trung nhờ quỹ đất rộng, khí hậu phù hợp và khả năng cách ly với khu vực đô thị đông dân.
Tuy nhiên, khu vực cũng phải đối mặt với tình trạng hạn hán, thiếu nước phục vụ chăn nuôi, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm và dịch bệnh lây lan giữa các địa phương. Vì vậy, việc mở rộng sản xuất cần gắn với quy hoạch vùng chăn nuôi, bảo đảm an toàn sinh học, tiết kiệm nước và kiểm soát sức chịu tải môi trường. Trong đó, tận dụng phụ phẩm để sản xuất phân bón, khí sinh học, tái sử dụng nước sau xử lý và số hóa công tác giám sát môi trường là những giải pháp cần được ưu tiên.
Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, nhấn mạnh địa phương định hướng thu hút các dự án chăn nuôi quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm an toàn sinh học và gắn với chế biến sâu. Cùng với đó, tỉnh khuyến khích tận dụng phụ phẩm, chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, bảo đảm an ninh nguồn nước và bảo vệ môi trường.
“Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”, ông Nguyễn Thiên Văn khẳng định, đồng thời cho biết tỉnh sẽ tiếp thu các kiến nghị tại diễn đàn để cụ thể hóa vào Chương trình phát triển chăn nuôi giai đoạn 2026 – 2030.
Minh Khuê
