TÌNH HÌNH CHUNG
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & MT, tình hình chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phát triển ổn định với tổng đàn lợn tại thời điểm cuối tháng 5/2026 ước tăng 2,8%, tổng đàn gia cầm ước tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, chăn nuôi trâu, bò tiếp tục gặp khó khăn do hiệu quả kinh tế thấp, diện tích chăn thả bị thu hẹp, tổng đàn trâu tại thời điểm cuối tháng 5/2026 ước giảm 5,5%, tổng đàn bò giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi lợn: Dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, giá lợn hơi duy trì ở mức cao tạo động lực cho người chăn nuôi mở rộng quy mô và tái đàn. Chăn nuôi lợn phục hồi mạnh tại các địa phương có quy mô trang trại lớn, chủ động con giống và áp dụng tốt quy trình an toàn sinh học. Tổng đàn lợn cả nước tại thời điểm cuối tháng 5/2026 ước tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có mức tăng khá như Gia Lai và An Giang cùng tăng 7,5%; Lâm Đồng tăng 6,9%; Thái Nguyên tăng 6%; Lạng Sơn tăng 4%; Phú Thọ tăng 3,7%; Thanh Hóa tăng 3,6%. Tuy nhiên, chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn gặp khó khăn do chi phí đầu vào cao và nguy cơ dịch bệnh trong điều kiện thời tiết nắng nóng, khiến đàn lợn tại một số địa phương giảm nhẹ.
Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm tiếp tục là điểm sáng của ngành chăn nuôi nhờ chu kỳ nuôi ngắn, quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng ổn định. Các mô hình chăn nuôi theo hướng trang trại, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ tiếp tục được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Tổng đàn gia cầm tại thời điểm cuối tháng 5/2026 ước tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà tăng 3,8%. Một số địa phương có mức tăng khá như Nghệ An tăng 7,1%; Thanh Hóa tăng 5,6%; Phú Thọ tăng 3,8%; Bắc Ninh tăng 3,7%; Đồng Nai tăng 3,4%; Tây Ninh tăng 3,2%.
Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục gặp khó khăn do hiệu quả kinh tế thấp, diện tích chăn thả và nguồn thức ăn thô xanh bị thu hẹp, trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao. Tổng đàn trâu cả nước tại thời điểm cuối tháng 5/2026 ước giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương giảm đáng kể như Phú Thọ giảm 8,6%; Cao Bằng giảm 7,8%; Sơn La giảm 3,6%; Tuyên Quang giảm 3%; Lào Cai giảm 2,1%. Tổng đàn bò ước giảm 2,1%, trong đó Phú Thọ giảm 4,9%; Sơn La và Quảng Trị cùng giảm 2,4%. Thời tiết nắng nóng kéo dài trong tháng cũng làm gia tăng áp lực chăm sóc và phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi.
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 66,5 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 308 triệu USD, tăng 43,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 79,3 triệu USD, tăng 2,1 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 89,2 triệu USD, tăng 8,6%.
Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 472,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 2,24 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 695,3 triệu USD, tăng 20,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 910,5 triệu USD, tăng 26,1%.
Về thú y: Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm trong tháng 5/2026 cụ thể như sau: Về bệnh Dịch tả lợn châu Phi: tại thời điểm cuối tháng 5, cả nước có 110 ổ dịch tại 16 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 5/2026, cả nước xảy ra 576 ổ dịch tại 25 tỉnh, thành phố, với tổng số lợn chết và buộc tiêu hủy là 72.129 con.
Về bệnh Cúm gia cầm: tại thời điểm cuối tháng 5, cả nước có 08 ổ dịch tại các tỉnh Ninh Bình, Điện Biên, Thanh Hóa, Khánh Hòa và An Giang chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 5/2026, cả nước xảy ra 24 ổ dịch tại 10 tỉnh, thành phố, với số gia cầm chết và buộc tiêu hủy là 134.237 con.
Về bệnh Lở mồm long móng: tại thời điểm cuối tháng 5, cả nước có 01 ổ dịch type O tại tỉnh Tuyên Quang chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 5/2026, cả nước xảy ra 06 ổ dịch tại 05 tỉnh, thành phố, với số gia súc chết và buộc tiêu hủy là 11 con.
Về bệnh Viêm da nổi cục: tại thời điểm cuối tháng 5, cả nước có 03 ổ dịch tại các tỉnh Cao Bằng và Quảng Ngãi chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 5, cả nước xảy ra 33 ổ dịch tại 06 tỉnh, thành phố, với số gia súc chết và buộc tiêu hủy là 63 con.
Về bệnh Dại động vật: tại thời điểm cuối tháng 5, cả nước có 13 ổ dịch tại 08 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 5, cả nước xảy ra 105 ổ dịch tại 19 tỉnh, thành phố, với số động vật buộc tiêu hủy là 181 con.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI
+ Thịt lợn: Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động trái chiều trong tháng 5/2026. So với tháng 4/2026, giá lợn hơi tại miền Bắc tăng 3.800 đồng/kg lên 67.000 – 68.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung – Tây Nguyên tăng 2.600 đồng/kg, dao động trong khoảng 67.000 – 68.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam giảm 800 đồng/kg, hiện đang ở mức 67.000 – 68.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tăng do nhu cầu tiêu thụ tốt. Dự báo trong ngắn hạn, giá lợn hơi có thể điểu chỉnh giảm do nguồn cung lợn thịt bắt đầu tăng trở lại tại một số địa phương.
+ Thịt gà: Giá thu mua gà thịt lông màu biến động khác nhau tại ba miền. Giá gà thịt lông màu miền Bắc giữ mức 48.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung tăng 200 đồng/kg, hiện ở mức 43.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam tăng 600 đồng/kg lên 45.000 đồng/kg.
Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 10.000 đồng/kg lên 29.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung giảm 3.000 đồng/kg xuống mức 24.000 đồng/kg Giá gà công nghiệp miền Nam giảm 5.000 đồng/kg, hiện là 24.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp tại miền Trung và miền Nam có xu hướng giảm do áp lực nguồn cung tăng trong khi sức mua không tăng tương ứng.
+ Trứng: Giá thu mua trứng gà biến động khác nhau tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc ổn định ở mức 1.300 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung tăng 200 đồng/quả, hiện ở mức 1.630 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam giữ mức 1.430 đồng/quả. Giá trứng ở mức thấp do sức mua yếu trong khi lượng trứng tồn kho cao.
+ Sản phẩm chăn nuôi: Trong tháng 5/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 7/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động tăng với mức tăng 8,675 US cent/lb lên 102.125 US cent/lb. Giá thịt lợn tăng do số lượng lợn giết mổ giảm so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong tháng 5/2026, giá bò hơi kỳ hạn tháng 6/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò hơi) giảm 4,25 US cent/lb xuống 249,75 US cent/lb. Giá bò hơi giảm do báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cho thấy số lượng gia súc được nuôi vỗ béo trong tháng 4/2026 tăng 5,52% so với cùng kỳ năm ngoái và cao hơn mức ước tính 3,4%.
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 66,5 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 308 triệu USD, tăng 43,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 79,3 triệu USD, tăng 2,1 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 89,2 triệu USD, tăng 8,6%.
Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 472,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 2,24 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 695,3 triệu USD, tăng 20,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 910,5 triệu USD, tăng 26,1%.
THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU
Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi: Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 66,5 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 308 triệu USD, tăng 43,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 79,3 triệu USD, tăng 2,1 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 89,2 triệu USD, tăng 8,6%.
Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi: Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 5 năm 2026 ước đạt 472,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm 2026 đạt 2,24 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 695,3 triệu USD, tăng 20,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 910,5 triệu USD, tăng 26,1%.
Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu: Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 5 năm 2026 ước đạt 450 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2026 đạt 1,77 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2025.
Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Hoa Kỳ, Áchentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 22%, 17% và 12,5%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 4 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 28,4%, thị trường Trung Quốc tăng 60,1%, trong khi thị trường Áchentina giảm 67,1%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canađa với mức tăng 5,9 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Áchentina với mức giảm 67,1%.
– Nhập khẩu đậu tương
Khối lượng nhập khẩu đậu tương tháng 5 năm 2026 ước đạt 480 nghìn tấn với giá trị đạt 224,6 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 5 tháng đầu năm 2026 đạt 1,6 triệu tấn và 766,3 triệu USD, tăng 72,4% về khối lượng và tăng 78,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 474,4 USD/tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Hoa Kỳ và Braxin với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 52,1% và 38,9%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu đậu tương 4 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 51,1% và thị trường Braxin tăng 2,4 lần.
– Nhập khẩu lúa mì
Khối lượng nhập khẩu lúa mì tháng 5 năm 2026 ước đạt 250 nghìn tấn với giá trị đạt 71,5 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu lúa mì 5 tháng đầu năm 2026 đạt 4,2 triệu tấn và 1,09 tỷ USD, tăng 54,6% về khối lượng và tăng 49,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 257,6 USD/tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Braxin và Áchentina là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 50,3% và 25,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu ngô 4 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Braxin tăng 2,2 lần và thị trường Áchentina giảm 9,3%.
Tổng hợp: Channuoivietnam.com
