Hiện nay, toàn tỉnh có gần 143.000 con trâu, hơn 104.000 con bò, gần 312.000 con lợn, hơn 5,1 triệu con gia cầm. Số lượng đàn gia súc, gia cầm lớn, nhưng chủ yếu chăn nuôi quy mô nông hộ nhỏ lẻ. Theo thống kê, chăn nuôi nông hộ chiếm khoảng 99,6%; chăn nuôi theo quy mô trang trại chỉ chiếm 0,4%, với 306 trang trại hỗn hợp; trong đó có 288 trang trại quy mô nhỏ và 18 trang trại quy mô vừa. Đối với phương thức chăn nuôi, hình thức bán chăn thả vẫn chiếm 51,4%; chăn nuôi thả rông chiếm 38,8%, còn nuôi nhốt chỉ chiếm 9,8%.
Mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân nhưng lại đặt ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý và xử lý chất thải. Phần lớn các cơ sở chăn nuôi nằm xen kẽ trong khu dân cư, quỹ đất nhỏ hẹp, không đủ điều kiện xây dựng các công trình xử lý môi trường. Chị Lò Thị Thương, thôn Huổi Lực, xã Tủa Chùa nuôi bò, nhưng do điều kiện kinh tế còn khó khăn nên chưa đầu tư được công trình xử lý chất thải. Nước thải từ hoạt động vệ sinh chuồng trại hằng ngày được xả trực tiếp ra môi trường.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, hoạt động chăn nuôi là một trong những nguồn gây sức ép lớn nhất đối với môi trường nước và không khí ở khu vực nông thôn. Chất thải chăn nuôi không chỉ bao gồm phân, nước tiểu mà còn có thức ăn thừa, chất độn chuồng, xác gia súc, gia cầm và nhiều loại vi sinh vật gây bệnh. Hiện nay chỉ khoảng 40 – 50% lượng chất thải chăn nuôi được xử lý; phần còn lại vẫn bị xả trực tiếp ra môi trường. Đây là nguyên nhân khiến nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, không khí ngày càng gia tăng, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phát tán dịch bệnh.

Hiện nay, hầu hết chăn nuôi trên địa bàn tỉnh quy mô gia đình, nước thải xả trực tiếp ra môi trường.
Số liệu thống kê cho thấy, lượng nước thải từ hoạt động chăn nuôi tăng qua từng năm. Năm 2021, tổng lượng nước thải phát sinh khoảng 10,38 triệu m3 thì đến năm 2025 tăng lên hơn 11 triệu m3. Trong đó chăn nuôi lợn phát sinh lượng nước thải lớn nhất. Lượng nước thải từ chăn nuôi lợn đạt khoảng 4,68 triệu m3, chiếm hơn 42% tổng lượng nước thải toàn ngành. Tiếp đến là gia cầm với 4,34 triệu m3; trâu khoảng 1,14 triệu m3 và bò khoảng 838.000m3.
Nếu không được xử lý đúng quy trình, lượng nước thải sẽ trở thành gánh nặng đối với môi trường. Theo phân tích, trong nước thải chăn nuôi tồn tại hàm lượng lớn các chất ô nhiễm hữu cơ như TSS, BOD5, COD, nitơ, phốt pho cùng nhiều loại vi sinh vật và mầm bệnh nguy hiểm. Khi xâm nhập vào nguồn nước, các chất này làm suy giảm chất lượng nước, gây thiếu oxy hòa tan, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, tại khu vực vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn sử dụng nguồn nước tự nhiên như sông, suối phục vụ sinh hoạt, nguy cơ ô nhiễm càng trở nên đáng lo ngại.
Khí thải từ hoạt động chăn nuôi như CH4 và N2O cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Theo tính toán, năm 2024, lượng khí CH4 phát sinh từ hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn và gia cầm lần lượt là 7.851,4 tấn; 5.763,2 tấn; 641,8 tấn và 96,5 tấn. Tương tự, lượng khí N2O phát sinh từ các nhóm vật nuôi là 15.631,5 tấn đối với trâu, 7.649,4 tấn đối với bò, 7.027,3 tấn đối với lợn và 5.282,3 tấn đối với gia cầm. Đây đều là những khí có cường độ tác động lớn, làm gia tăng biến đổi khí hậu. Thành phần khí thải trong quá trình chăn nuôi bao gồm CO2, CH4, N2O cùng các khí khác như H2S và NH3 – những hợp chất gây mùi mạnh và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.
Những năm gần đây, công nghệ biogas đã được người dân áp dụng rộng rãi nhằm xử lý chất thải chăn nuôi. Đây được xem là giải pháp tương đối phù hợp với điều kiện thực tế ở nông thôn bởi vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường, vừa tạo nguồn khí đốt phục vụ sinh hoạt. Tuy nhiên, phần lớn các công trình biogas trên địa bàn vẫn có quy mô nhỏ, hiệu quả xử lý chưa đồng đều; trong khi khả năng xử lý triệt để vi khuẩn gây bệnh chưa cao, đặc biệt đối với chăn nuôi lợn. Bởi vậy, việc kiểm soát nước thải chăn nuôi không thể chỉ phụ thuộc vào các hộ gia đình riêng lẻ mà cần một chiến lược đồng bộ, lâu dài.
Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học. Việc quy hoạch lại các khu chăn nuôi sẽ giúp dễ dàng đầu tư hệ thống xử lý chất thải tập trung. Song song với đó, cần nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất. Đây là nền tảng quan trọng để từng bước nâng cao nhận thức và chuẩn hóa quy trình chăn nuôi theo hướng thân thiện với môi trường.
Nhiều dự án chăn nuôi quy mô lớn đang được đầu tư bài bản ngay từ đầu. Điển hình là dự án trang trại chăn nuôi heo tại xã Mường Pồn với diện tích hơn 10,5ha, tổng vốn đầu tư khoảng 120 tỷ đồng. Dự án được xây dựng với 16 chuồng nuôi cùng hệ thống xử lý chất thải hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường và an toàn sinh học. Khi đi vào hoạt động, trang trại dự kiến sản xuất khoảng 8.000 con lợn thương phẩm mỗi năm. Việc áp dụng quy trình quản lý khép kín cho thấy xu hướng chuyển dịch tích cực từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi công nghiệp hiện đại.
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang hướng tới phát triển xanh, việc kiểm soát nước thải, khí thải chăn nuôi không còn là nhiệm vụ riêng của ngành môi trường mà trở thành trách nhiệm chung của chính quyền, doanh nghiệp và người dân. Chỉ khi xây dựng được một hệ thống chăn nuôi an toàn sinh học, kiểm soát tốt nguồn phát thải ngay từ đầu, Điện Biên mới có thể giải quyết căn cơ bài toán ô nhiễm môi trường nông thôn, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi trong tương lai.
Quốc Huy
Nguồn: Báo Điện Biên Phủ
