(Người Chăn Nuôi) – Trước những thách thức lớn về dịch bệnh và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, việc chuyển đổi từ phương thức chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi an toàn sinh học (ATSH) kết hợp công nghệ số không còn là lựa chọn, mà đã trở thành con đường tất yếu để ngành chăn nuôi phát triển bền vững. Đây chính là “chìa khóa vàng” giúp nông dân và doanh nghiệp chủ động bảo vệ thành quả sản xuất, nâng cao giá trị nông sản địa phương.
An toàn sinh học – “Lá chắn thép” bảo vệ đàn vật nuôi
ATSH là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và quản lý, nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài vào trang trại và không cho dịch bệnh lây lan.
Thực tiễn đã chứng minh, các trang trại thực hiện tốt ATSH có thể giảm thiểu tới 85 – 90% nguy cơ bùng phát các dịch bệnh nguy hiểm như Dịch tả heo châu Phi hay Cúm gia cầm…

Trên nền thức ăn tự phối trộn, chế phẩm sinh học được bổ sung nhằm xây dựng quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học. Ảnh: Trung tâm Truyền thông KH&CN
Công nghệ số – “Bộ não thông minh” tối ưu hóa sản xuất
Nếu ATSH là bức tường thành kiên cố thì công nghệ số chính là hệ thống cảnh báo và điều hành thông minh, giúp tối ưu hóa mọi nguồn lực:
– Giám sát môi trường tự động (IoT): Hệ thống cảm biến tự động theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ khí độc (NH3, H2S) trong chuồng. Khi có biến động, hệ thống tự động kích hoạt giàn làm mát, quạt thông gió, giúp vật nuôi luôn trong trạng thái thoải mái nhất, kích thích tăng trưởng.
– Trí tuệ nhân tạo (AI) nhận diện dịch bệnh sớm: Ứng dụng camera AI theo dõi biểu hiện của đàn vật nuôi 24/7. Công nghệ có khả năng phát hiện sớm những cá thể có hành vi bất thường (bỏ ăn, ủ rũ, ho) trước khi bệnh phát tán diện rộng.
– Số hóa quản lý và truy xuất nguồn gốc: Việc sử dụng phần mềm quản lý trang trại giúp ghi chép chính xác nhật ký chăn nuôi (lịch tiêm vaccine, tiêu thụ cám, nước uống…). Kết hợp tem điện tử mã QR giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra nguồn gốc, nâng cao uy tín và giá trị thương hiệu cho nông sản trên thị trường.
Từ xây dựng khẩu phần thức ăn có cơ sở khoa học, bổ sung chế phẩm vi sinh đến quản lý đàn heo bằng nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR; Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Nghệ An đã triển khai Dự án “Ứng dụng công nghệ sinh học kết hợp nhật ký điện tử xây dựng mô hình chăn nuôi heo an toàn sử dụng thức ăn tự phối trộn trên địa bàn tỉnh Nghệ An”.
ThS Nguyễn Đình Tiến, đại diện nhóm thực hiện Dự án cho biết, thay vì phối trộn thức ăn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, nguồn nguyên liệu tại địa phương sẽ được sử dụng trên cơ sở khẩu phần phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của đàn heo. Cách tiếp cận này vừa phát huy lợi thế nguồn nguyên liệu sẵn có, vừa hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm chi phí đầu vào.
Trên nền thức ăn tự phối trộn, chế phẩm sinh học được bổ sung nhằm xây dựng quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học. Dự án đặt mục tiêu giảm 20 – 30% tỷ lệ mắc bệnh, giảm 40% lượng kháng sinh sử dụng và giảm trên 80% mùi hôi chuồng trại. Các chỉ tiêu này tập trung vào những vấn đề trực tiếp của chăn nuôi heo. Giảm tỷ lệ mắc bệnh giúp hạn chế rủi ro trong sản xuất; giảm sử dụng kháng sinh gắn với yêu cầu nâng cao an toàn thực phẩm; trong khi kiểm soát mùi hôi góp phần hạn chế tác động của hoạt động chăn nuôi đến môi trường.
Theo ThS Nguyễn Đình Tiến, việc kết hợp công nghệ sinh học với hệ thống nhật ký điện tử hướng tới tạo ra sản phẩm thịt heo an toàn, có khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng và an toàn thực phẩm. Đồng thời, mô hình góp phần tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Mục tiêu đặt ra là 100% đàn heo trong mô hình được truy xuất nguồn gốc bằng mã QR. Thông tin trong quá trình chăn nuôi được ghi nhận và quản lý trên nhật ký điện tử, tạo cơ sở theo dõi quy trình sản xuất và minh bạch nguồn gốc sản phẩm.
Dự án dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026 – 2027, phấn đấu tạo ra khoảng 90 – 120 tấn thịt heo thương phẩm mỗi năm, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và vệ sinh thú y; đồng thời, hướng tới xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất, có khả năng ứng dụng tại các hộ chăn nuôi và hợp tác xã trên địa bàn Nghệ An.
Ngọc Hân
