(Người Chăn Nuôi) – Ngày 17/9, tại thành phố Huế, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức chương trình truyền thông về kết quả các mô hình, dự án khuyến nông Trung ương năm 2026. Một trong những điểm nhấn của chương trình là khảo sát thực tế các mô hình chăn nuôi an toàn, hữu cơ, xử lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn và gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm.
Từ “nuôi xong mới bán” đến sản xuất có đầu ra
Tại mô hình “Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn thịt hữu cơ đảm bảo an toàn sinh học, theo kinh tế tuần hoàn” tại Huế, người chăn nuôi được hướng dẫn kiểm soát toàn bộ quá trình từ con giống, thức ăn, chăm sóc, phòng bệnh đến xử lý chất thải. Quy mô dự án đạt 9.000 con lợn thịt.
Theo kết quả dự án giai đoạn 2024 – 2025, lợn nuôi trong mô hình đạt mức tăng trọng bình quân 714,3 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn 2,4 kg/kg tăng khối lượng. Đáng chú ý, 100% cơ sở tham gia thực hiện xử lý chất thải làm phân bón cho cây trồng.
Một mắt xích quan trọng khác là liên kết tiêu thụ. Tập đoàn Quế Lâm đã ký 14 hợp đồng liên kết chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm với các hộ tham gia; 100% lợn thịt được nuôi theo quy trình chăn nuôi hữu cơ Quế Lâm được liên kết tiêu thụ.

Lãnh đạo Trung Tâm Khuyến nông Quốc gia tham quan mô hình. Ảnh: TCĐT Nông thôn Việt.
Cách làm này tạo ra sự khác biệt so với phương thức sản xuất truyền thống, khi người dân thường phải tự tổ chức chăn nuôi và chỉ tìm đầu ra sau khi kết thúc mỗi lứa. Với mô hình liên kết, doanh nghiệp tham gia từ cung ứng đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát quy trình đến thu mua sản phẩm.
Theo đánh giá của dự án, hiệu quả kinh tế của mô hình cao hơn ít nhất 11% so với chăn nuôi đại trà. Tại thời điểm tháng 9/2026, giá sản phẩm được báo cáo cao hơn giá thị trường khoảng 4.000 – 5.000 đồng/kg.
VietGAHP gắn với thị trường
Cùng hướng tới thay đổi phương thức chăn nuôi, dự án xây dựng mô hình chăn nuôi gà Minh Dư (MD) theo quy trình VietGAHP, gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm, được triển khai trong giai đoạn 2025 – 2027 tại Huế và Đà Nẵng.
Dự án đặt mục tiêu xây dựng 7 mô hình với tổng quy mô 60.000 con gà. Người chăn nuôi được hướng dẫn kiểm soát từ con giống, chuồng trại, thức ăn, nước uống đến vệ sinh thú y, phòng dịch, sử dụng thuốc thú y và quản lý chất thải. Quá trình sản xuất được ghi chép, tạo cơ sở truy xuất nguồn gốc từ con giống đến khi xuất bán. Các chỉ tiêu của mô hình gồm tỷ lệ nuôi sống từ 95%, khối lượng bình quân từ 2,1 kg/con ở 15 tuần tuổi và tiêu tốn thức ăn không quá 2,6 kg/kg tăng trọng; hiệu quả kinh tế phấn đấu cao hơn ít nhất 10% so với chăn nuôi đại trà. Sản phẩm gà Minh Dư của các mô hình được liên kết tiêu thụ với Công ty cổ phần CODO Việt Nam, hướng tới tiêu thụ 100% sản phẩm.
Với người chăn nuôi, lợi ích của liên kết không chỉ nằm ở giá bán. Chị Nguyễn Thị Hiếu, một hộ tham gia mô hình tại Huế cho biết, sản phẩm được bao tiêu với giá cao hơn mặt bằng chung. Việc chủ động được đầu ra giúp gia đình giảm bớt rủi ro trong khâu tiêu thụ sau mỗi lứa nuôi.
Theo ông Lê Đức Thạo, cán bộ dự án gà Minh Dư do Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế triển khai, mô hình hướng tới thay đổi cách sản xuất của nông hộ. Khi tham gia chuỗi, nông hộ không chỉ yên tâm về đầu ra mà còn có lợi nhuận tốt hơn so với việc tự sản xuất rồi bán ra thị trường.
Biến chất thải thành nguồn lực
Nếu các mô hình lợn và gà cho thấy vai trò của liên kết trong kiểm soát sản xuất và tiêu thụ, mô hình Tổ hợp Nông nghiệp hữu cơ – Kinh tế tuần hoàn – Sinh thái 4F Quế Lâm tại Huế lại cho thấy một hướng tiếp cận khác, đưa chất thải, phụ phẩm trở thành nguồn lực cho chuỗi sản xuất.
Tổ hợp có diện tích 17,5 ha, tích hợp chăn nuôi, trồng trọt, chế biến, sản xuất dinh dưỡng hữu cơ và phát triển chế phẩm vi sinh. Chất thải chăn nuôi được xử lý để phục vụ sản xuất nông nghiệp, thay vì chỉ được xem là phần phải xử lý sau cùng.
Tại nhà máy sản xuất ruồi lính đen trong tổ hợp, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, ví mô hình này như một “nhà máy sản xuất protein”.
Theo cách tổ chức của mô hình, các nguồn phụ phẩm và chất hữu cơ phù hợp được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng ruồi lính đen. Sau quá trình sinh trưởng, ấu trùng trở thành nguồn nguyên liệu giàu protein để phối trộn thức ăn cho vật nuôi. Chất thải từ chăn nuôi tiếp tục được xử lý để tạo nguồn phân bón hữu cơ phục vụ cây trồng. Như vậy, thay vì hình thành một dòng sản xuất tuyến tính từ đầu vào đến sản phẩm rồi phát sinh chất thải, mô hình hướng tới tạo ra vòng tuần hoàn giữa chăn nuôi, trồng trọt và xử lý phụ phẩm.
Tập đoàn Quế Lâm kỳ vọng việc sử dụng ấu trùng ruồi lính đen trong thức ăn cho lợn, gà có thể hỗ trợ sức khỏe vật nuôi và khả năng chống chịu khi gặp dịch bệnh. Tuy nhiên, hiệu quả này cần được đặt trong tổng thể yêu cầu kiểm soát nguyên liệu, quy trình nuôi và chất lượng thức ăn.
Từ những mô hình được khảo sát tại Huế có thể thấy, yêu cầu đặt ra đối với khuyến nông hiện nay không chỉ là chuyển giao một quy trình kỹ thuật cho người dân. Quan trọng hơn là giúp hình thành phương thức sản xuất có tổ chức, kiểm soát được chất lượng, giảm tác động môi trường và có thị trường tiêu thụ.
Ở mô hình lợn hữu cơ, doanh nghiệp tham gia từ đầu vào đến thu mua và xử lý chất thải. Với gà Minh Dư, quy trình VietGAHP được kết nối với doanh nghiệp tiêu thụ. Còn tại tổ hợp 4F, chăn nuôi được đặt trong một hệ sinh thái sản xuất gồm trồng trọt, chế biến và tái sử dụng phụ phẩm. Đây cũng là cơ sở để đánh giá khả năng duy trì mô hình sau khi dự án khuyến nông kết thúc.
Minh Khuê
