(Người Chăn Nuôi) – Phát triển công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng, làm chủ các công nghệ sinh học thế hệ mới, thúc đẩy sản xuất giống, vaccine, thuốc thú y sinh học và hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ là những nội dung trọng tâm trong Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Ngày 31/7, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường.
Mục tiêu xuyên suốt của Kế hoạch là phát triển ngành công nghiệp sinh học trở thành nền tảng quan trọng, dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành nông nghiệp và môi trường trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Qua đó, từng bước làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và các sản phẩm công nghệ sinh học quy mô công nghiệp, có năng lực cạnh tranh cao, phục vụ phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Ảnh minh họa.
Kế hoạch cũng hướng tới mục tiêu góp phần bảo đảm tự chủ về công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, phục vụ quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, đồng thời đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số.
Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược và công nghệ chỉnh sửa gen; ứng dụng hiệu quả các công nghệ này để tạo ra các sản phẩm quy mô công nghiệp, hình thành ngành kinh tế – kỹ thuật có khả năng cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chất lượng, an toàn.
Cùng đó, hình thành và phát triển thị trường công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghiệp sinh học phát triển trên thế giới, trở thành trung tâm sản xuất và cung cấp dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.
Theo Kế hoạch, doanh nghiệp công nghiệp sinh học sẽ được thúc đẩy phát triển mạnh cả về quy mô đầu tư và tốc độ tăng trưởng. Đồng thời, số lượng sản phẩm công nghệ sinh học được tạo ra từ Kế hoạch phấn đấu thay thế tối thiểu 60% các sản phẩm nhập khẩu cùng loại và đóng góp khoảng 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Quyết định đề ra sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: phát triển khoa học và công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường; xây dựng và phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học; xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường; hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp sinh học; tăng cường hợp tác quốc tế; và đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức về công nghiệp sinh học.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản và thú y, Kế hoạch dành nhiều nội dung nhằm thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ các công nghệ sinh học hiện đại. Cụ thể, Nhà nước sẽ tập trung xây dựng và triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu nhằm phát triển công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen và các công nghệ chiến lược để sản xuất KIT phát hiện nhanh, kiểm định, kiểm dịch, đánh giá chất lượng con giống vật nuôi, thủy sản; phục vụ chọn tạo các giống vật nuôi, thủy sản chủ lực tích hợp nhiều đặc tính ưu việt như năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu dịch bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu và điều kiện môi trường bất lợi.
Kế hoạch cũng đặt trọng tâm vào nghiên cứu, phát triển và sản xuất vaccine, chế phẩm sinh học cùng các sản phẩm sinh học phục vụ giám sát, chẩn đoán, xét nghiệm và phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi, thủy sản, đồng thời đẩy mạnh chuyển giao và nhân rộng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Một điểm nhấn khác là ứng dụng và làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới để phát triển các KIT phát hiện nhanh, giám định tác nhân gây bệnh, đặc biệt đối với các bệnh nguy hiểm và bệnh mới phát sinh trên vật nuôi, thủy sản. Bên cạnh đó là các giải pháp kiểm soát dư lượng chất cấm trong thực phẩm có nguồn gốc động vật; phát triển các chế phẩm sinh học nâng cao sức đề kháng và hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của vật nuôi, thủy sản; nghiên cứu sản xuất vaccine thế hệ mới và thuốc thú y sinh học có hiệu quả kinh tế cao; tăng cường giám sát, cảnh báo và phòng, chống tình trạng kháng thuốc.
Các công nghệ, quy trình sau khi được nghiên cứu sẽ được chuyển giao và tổ chức sản xuất ở quy mô công nghiệp nhằm nhanh chóng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Ở góc độ phát triển công nghiệp, Kế hoạch đặt mục tiêu hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghiệp sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường với quy mô công nghiệp. Trong lĩnh vực chăn nuôi, các doanh nghiệp sẽ tập trung sản xuất giống vật nuôi chủ lực, thức ăn chăn nuôi, vaccine phòng bệnh, thuốc thú y sinh học, KIT chẩn đoán, xét nghiệm, giám sát dịch bệnh và kiểm soát dư lượng các chất cấm. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng được khuyến khích phát triển các chế phẩm sinh học xử lý môi trường chăn nuôi, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.
Kế hoạch yêu cầu phát triển đồng bộ chuỗi nghiên cứu – sản xuất – kinh doanh các sản phẩm công nghệ sinh học chủ lực theo hướng ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm năng suất, chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.
Cùng với đó, Nhà nước sẽ đẩy mạnh cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông nghiệp quy mô công nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của ngành, đồng thời từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Minh Khuê
