(Người Chăn Nuôi) – Trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang chịu áp lực lớn từ yêu cầu an toàn thực phẩm và nguy cơ kháng kháng sinh trên toàn cầu, việc sử dụng thuốc thú y minh bạch, khoa học và có trách nhiệm đang trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt.
Vẫn còn nhức nhối
Báo cáo mới của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) cho biết, ngành chăn nuôi hiện tiêu thụ gần 75% tổng lượng thuốc kháng khuẩn được sử dụng trên toàn cầu. Tại nhiều quốc gia, việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi vẫn chưa được giám sát chặt chẽ. Nhiều trang trại duy trì việc bổ sung kháng sinh thường xuyên cho vật nuôi, trong khi một số nước vẫn cho phép sử dụng các loại thuốc này để kích thích tăng trưởng ở động vật nuôi lấy thịt.
Theo các nhà khoa học, đây là một trong những nguyên nhân chính thúc đẩy sự xuất hiện và lan rộng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Tình trạng kháng kháng sinh (AMR) hiện được xem là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất.
Theo báo cáo, nếu xu hướng hiện nay tiếp diễn, lượng kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi có thể vượt 143.000 tấn mỗi năm vào năm 2040, tăng khoảng 30% so với năm 2019 và cao hơn mức đỉnh 118.000 – 130.000 tấn từng ghi nhận vào năm 2013.

Nghị định 211/2026/NĐ-CP ngày 16/6/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi
Kháng sinh vốn là thành tựu y học vĩ đại để điều trị các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, ranh giới giữa “điều trị” và “lạm dụng” đã bị xóa nhòa từ lâu. Kháng sinh không chỉ được dùng để chữa bệnh mà còn bị lạm dụng một cách hệ thống cho mục đích phòng bệnh chủ động và kích thích sinh trưởng vật nuôi. Việc sử dụng liên tục với liều lượng dưới mức điều trị (sub-therapeutic doses) thông qua thức ăn và nước uống đã biến các cơ sở chăn nuôi thành những “lò phản ứng” gia tốc quá trình tiến hóa của vi khuẩn, hình thành các gen kháng thuốc (ARGs – Antibiotic Resistance Genes) và các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc (MDR – Multidrug-Resistant).
Trong chăn nuôi gia cầm: Khảo sát tại các vùng chăn nuôi trọng điểm như Đồng Tháp và Đông Nam bộ cho thấy, trung bình một con gà thịt tại Việt Nam tiêu thụ khoảng 470 mg đến 500 mg hoạt chất kháng sinh trong suốt vòng đời. Con số này cao gấp 5 đến 7 lần so với mức tiêu thụ trung bình tại các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU). Khoảng 72% đến 84% tổng lượng kháng sinh này được đưa vào cơ thể vật nuôi với mục đích “phòng bệnh” định kỳ theo lịch trình có sẵn của trang trại, thay vì điều trị khi có triệu chứng lâm sàng.
Trong chăn nuôi heo: Tình trạng thậm chí nghiêm trọng hơn. Hàm lượng kháng sinh sử dụng trung bình ước tính đạt 286,6 mg hoạt chất trên mỗi kg heo hơi xuất chuồng. Tại các vùng chăn nuôi mật độ cao như Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, các nhóm kháng sinh như Tetracyclines, Macrolides, Aminoglycosides, và Polymyxins được tiêu thụ với khối lượng hàng tấn mỗi năm.
Siết chặt quản lý
EU hiện được xem là một trong những khu vực đi đầu trong việc siết chặt quản lý kháng sinh trong chăn nuôi. Từ tháng 9/2026, EU sẽ cấm nhập khẩu toàn bộ thịt, sữa và trứng được sản xuất bằng phương thức sử dụng kháng sinh làm chất kích thích tăng trưởng. Quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo động lực để các quốc gia xuất khẩu nâng cao tiêu chuẩn sản xuất, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh trong ngành chăn nuôi.
Ngày 17/9/2026, tại Hà Nội, Cục Chăn nuôi và Thú y tổ chức Hội nghị phổ biến các quy định về quản lý, sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Tại đây, ông Đinh Nam Phương, Chuyên viên Phòng Thuốc thú y và Thức ăn chăn nuôi (Cục Chăn nuôi và Thú y) cho biết, việc sử dụng kháng sinh sai mục đích làm tăng nguy cơ kháng thuốc và tồn dư. Quản lý phải đi vào thực hành hàng ngày. Quản lý kháng sinh bao quát cả chuỗi từ phòng bệnh bằng các biện pháp vaccine và an toàn sinh học; tới chẩn đoán (khám, xét nghiệm, dịch tễ); kê đơn (chỉ định, liều, liệu trình); bán thuốc (đúng đơn, hướng dẫn); sử dụng (đúng cách, ghi chép); giám sát (kháng kháng sinh và tồn dư…). Đối với cơ sở nuôi: Cần sử dụng đúng mục đích, ghi chép, đầy đủ và đảm bảo thời gian ngưng thuốc; người kê đơn cần chẩn đoán, lựa chọn thuốc, liều và liệu trình có căn cứ; cơ sở bán thuốc cần bán đúng đơn, hướng dẫn rõ và lưu chứng từ; cơ quan quản lý thì cần hướng dẫn, giám sát, cảnh báo và hỗ trợ thực hiện.
Chăn nuôi an toàn
Theo các chuyên gia, kiểm soát dịch bệnh luôn là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi. Trong đó, quản lý và sử dụng kháng sinh đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe vật nuôi, hiệu quả kinh tế cũng như môi trường.
PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc, Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam chia sẻ, Dự án “Ứng dụng công nghệ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo để nâng cao an toàn sinh học và góp phần giảm thiểu sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi heo tại hai vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam” hướng tới thay đổi thái độ, hành vi của người chăn nuôi, cải thiện an toàn sinh học và khuyến khích sử dụng kháng sinh thận trọng, qua đó góp phần phát triển chăn nuôi heo bền vững, cạnh tranh và tạo ra thực phẩm an toàn. Bắt đầu can thiệp thực địa từ tháng 7/2026, Dự án đã bước đầu ghi nhận những chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực hành của chủ trang trại. Dự kiến quá trình hoàn thiện mô hình sẽ kéo dài đến tháng 2/2027, nhằm tạo dựng chuẩn mực chăn nuôi an toàn sinh học có khả năng lan tỏa ra cộng đồng.

Xây dựng chăn nuôi an toàn sinh học không chỉ là bài toán kỹ thuật. Đó còn là quá trình thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, trong đó người chăn nuôi trở thành chủ thể trực tiếp kiểm soát nguy cơ. Khi những thao tác vệ sinh, khử khuẩn, kiểm soát người và phương tiện, quản lý con giống, thức ăn, nước uống và các yếu tố có nguy cơ trở thành thói quen thường nhật, an toàn sinh học mới thực sự đi vào sản xuất. Đây cũng là nền tảng để ngành chăn nuôi giảm rủi ro dịch bệnh, hạn chế sử dụng kháng sinh và từng bước nâng cao chất lượng, an toàn của sản phẩm chăn nuôi.
Vân Anh
