Kỳ 1: Nỗi lo từ những chuồng trại trong khu dân cư
Quá trình đô thị hóa và mở rộng khu dân cư đang làm thay đổi không gian sản xuất ở nhiều địa bàn. Nhiều chuồng trại được xây dựng khi dân cư còn thưa nay nằm gần, thậm chí xen giữa nhà ở, làm gia tăng nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường và sinh hoạt của người dân.
Trong khi đó, chăn nuôi đang là sinh kế của nhiều hộ gia đình, gắn với nguồn thu nhập và đời sống của người dân. Vì vậy, tổ chức lại hoạt động chăn nuôi cần được thực hiện phù hợp, vừa kiểm soát các vấn đề môi trường, vừa tạo điều kiện để người chăn nuôi có thời gian chuẩn bị, chuyển đổi hoặc bố trí sản xuất tại những địa điểm phù hợp.
Việc sắp xếp, quy hoạch lại không gian chăn nuôi góp phần tạo điều kiện để người dân duy trì sản xuất phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường. Trong ảnh: Khu chăn nuôi gà của gia đình ông Nguyễn Văn Đạt, tổ dân phố Thanh Quang, phường Vạn Xuân.

Việc sắp xếp, quy hoạch lại không gian chăn nuôi góp phần tạo điều kiện để người dân duy trì sản xuất phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường. Trong ảnh: Khu chăn nuôi gà của gia đình ông Nguyễn Văn Đạt, tổ dân phố Thanh Quang, phường Vạn Xuân.
Khi chuồng trại nằm giữa khu dân cư
Thời gian qua, tỉnh Thái Nguyên không ngừng phát triển, diện mạo làng xóm ở nhiều khu vực nông thôn thay đổi rõ rệt theo từng năm. Đường được mở rộng, nhà ở mọc lên, những khoảng đất trống dần nhường chỗ cho các công trình dân sinh.
Trong khi đó, những chuồng trại hình thành từ thời điểm dân cư còn thưa thớt vẫn tiếp tục hoạt động tại vị trí cũ. Có nơi, ranh giới giữa nhà dân và khu chăn nuôi chỉ còn là bức tường, con ngõ hoặc một khoảng sân nhỏ.
Khi khu dân cư mở rộng đến gần khu vực sản xuất, những bất tiện vốn ít được chú ý trước đây trở thành vấn đề thường xuyên trong sinh hoạt của các hộ xung quanh.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm mang lại thu nhập cho nhiều gia đình, cung cấp thực phẩm và tạo việc làm tại chỗ. Tuy nhiên, quy mô đàn vật nuôi tăng lên cũng đồng nghĩa lượng phân, nước thải và các loại chất thải khác cần thu gom, xử lý nhiều hơn.
Nếu công trình xử lý không đáp ứng yêu cầu, mùi hôi có thể lan sang nhà ở; nước thải có nguy cơ chảy vào mương, suối; ruồi, muỗi xuất hiện, gây bất tiện cho cuộc sống người dân.

Phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Thái Nguyên ghi nhận hiện trạng khu vực cống thoát nước dẫn ra dòng suối tại tổ dân phố Quyết Thắng, phường Phúc Thuận.
Vào những ngày nắng nóng hoặc mưa lớn, các ảnh hưởng này có thể rõ hơn. Bởi vậy, duy trì hoạt động chăn nuôi phải đi cùng trách nhiệm bảo vệ môi trường, dù cơ sở đã có từ lâu hay mới hình thành.
Tại tổ dân phố Quyết Thắng, phường Phúc Thuận, người dân phản ánh một dòng suối chảy từ khu vực Đèo Nhe qua khu dân cư, từng được sử dụng phục vụ tưới tiêu, có thời điểm chuyển màu đen, nước đặc quánh và bốc mùi khó chịu. Những hộ sống gần dòng suối lo lắng khi nguồn nước quen thuộc xuất hiện các dấu hiệu bất thường.
Việc tiếp tục sử dụng nước phục vụ sản xuất cũng khiến họ băn khoăn. Người dân địa phương đang hằng ngày phải sống chung với tình trạng ô nhiễm môi trường. Mong muốn của người tổ dân phố dân Quyết Thắng là cơ quan chức năng kiểm tra nguồn nước, xác định nguyên nhân và có biện pháp khắc phục để dòng suối không tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày.
Gia đình ông Lăng Văn Nguyên sống gần khu vực này. Theo ông, phía thượng nguồn có một số trang trại chăn nuôi; người dân nghi ngờ nước thải từ hoạt động chăn nuôi có thể là một trong những nguyên nhân khiến dòng suối bị ảnh hưởng.
Cùng chung nỗi lo, bà Nguyễn Thị Thân ở tổ dân phố Quyết Thắng băn khoăn về nguy cơ tác động đến nguồn nước sinh hoạt và sức khỏe nếu tình trạng kéo dài, nhất là đối với người già, trẻ nhỏ.
Ghi nhận của phóng viên tại khu vực phía trên thượng nguồn cho thấy, gần dòng suối có một số trang trại, gia trại nuôi lợn, trong đó có cơ sở nằm xen trong khu dân cư.
Hằng ngày, lượng nước thải chảy từ những trang trại này ra dòng suối không hề nhỏ. Những hộ dân sống ở khu vực phía dưới cho biết, mỗi khi các cơ sở này xả nước ra môi trường, mùi hôi, thối bốc lên nồng nặc.
Người dân đã nhiều lần phản ánh tới chính quyền địa phương, nhưng tình trạng này vẫn tiếp diễn, chưa có giải pháp ngăn chặn triệt để. Việc sống chung với ô nhiễm diễn ra hằng ngày, ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe của người dân.
Không thể chỉ giải quyết bằng một yêu cầu di dời
Chuyện chuồng trại nằm giữa khu dân cư có phần bắt nguồn từ quá trình phát triển của chính các địa phương. Nhiều cơ sở đã hoạt động khi xung quanh chủ yếu là đất nông nghiệp, mật độ nhà ở thấp. Sau nhiều năm, dân cư tăng, đất ở mở rộng, khoảng cách từng được xem là phù hợp không còn như trước.
Vì vậy, khi xem xét phương án tổ chức lại chăn nuôi, cần tính đến cả yêu cầu bảo vệ môi trường hiện nay và điều kiện hình thành của các cơ sở. Không phải hộ nào cũng có thể dừng sản xuất hoặc chuyển đi ngay sau một thông báo.
Cùng với đó, việc đầu tư của các cơ sở chăn nuôi này cũng không hề nhỏ. Mỗi chuồng trại là khoản vốn tích lũy, đàn vật nuôi và nguồn sống của gia đình. Muốn chuyển đến nơi khác, chủ cơ sở phải tìm đất phù hợp quy hoạch, kiểm tra điều kiện sử dụng đất, tính toán đường vận chuyển thức ăn và vật nuôi, nguồn điện, nước cũng như khả năng xử lý chất thải.

Dòng suối tại tổ dân phố Quyết Thắng, phường Phúc Thuận, có thời điểm nước chuyển màu sẫm, nổi nhiều bọt, khiến người dân lo ngại về tình trạng ô nhiễm.
Việc xây lại chuồng trại, mua sắm thiết bị, bố trí khu thu gom nước thải là cả một bài toán kinh tế. Nếu cơ sở đang nuôi đàn vật nuôi chưa đến kỳ xuất bán, việc lựa chọn thời điểm di dời càng phải tính toán để hạn chế gián đoạn sản xuất và phát sinh chi phí.
Với những hộ đã gắn bó hàng chục năm với nghề, quyết định chấm dứt chăn nuôi còn liên quan trực tiếp đến công việc của các thành viên trong gia đình. Chuyển sang nghề khác đòi hỏi thời gian học kỹ năng mới, tìm đầu ra hoặc việc làm phù hợp.
Không phải ai cũng sẵn có vốn, địa điểm kinh doanh hay điều kiện tham gia đào tạo. Những khó khăn ấy cần được ghi nhận khi xây dựng lộ trình và hướng dẫn lựa chọn phương án.
Hộ có khả năng tiếp tục sản xuất cần được hướng dẫn tìm địa điểm đáp ứng quy định; hộ muốn chuyển nghề cần được tiếp cận thông tin về chính sách đào tạo, hỗ trợ.
Tuy nhiên, những khó khăn của người chăn nuôi không thể trở thành lý do để môi trường sống của cộng đồng tiếp tục bị ảnh hưởng. Trong thời gian còn hoạt động, mỗi cơ sở vẫn phải thu gom, xử lý chất thải và thực hiện các yêu cầu bảo vệ môi trường.
Địa phương cần kiểm tra những điểm có phản ánh về nước thải, mùi hôi, yêu cầu khắc phục khi phát hiện vấn đề và xử lý vi phạm theo quy định. Làm tốt các biện pháp trước mắt giúp người dân bớt lo lắng, đồng thời tạo điều kiện để các hộ chăn nuôi chuẩn bị phương án lâu dài, hạn chế phát sinh mâu thuẫn trong khu dân cư.
Có chính sách, cần tổ chức thực hiện sát thực tế
Ngày 25/6/2026, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND quy định khu vực không được phép chăn nuôi và chính sách hỗ trợ khi di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi những khu vực này.
Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 6/7/2026, tạo cơ sở để các địa phương rà soát, tổ chức lại hoạt động chăn nuôi theo những tiêu chí chung.
Theo đó, khu vực không được phép chăn nuôi gia súc, gia cầm là các thôn, xóm, tổ dân phố có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở lên và mật độ dân số bình quân trên diện tích tự nhiên từ 1.000 người/km² trở lên. UBND tỉnh quyết định danh sách khu vực dựa trên các tiêu chí này.
Song song với công tác rà soát, việc công khai thông tin sẽ giúp người dân chủ động tìm hiểu và chuẩn bị phương án phù hợp. Danh sách khu vực không được phép chăn nuôi, phạm vi áp dụng, điều kiện được hỗ trợ và các bước thực hiện được thông tin bằng hình thức dễ tiếp cận tại thôn, xóm, tổ dân phố.
Những hộ đang hoạt động cũng có thể được trao đổi trực tiếp về nhu cầu tiếp tục chăn nuôi hoặc chuyển đổi nghề.
Khi nắm rõ quyền lợi, nghĩa vụ, người dân có thêm cơ sở cân đối nguồn vốn, sắp xếp đàn vật nuôi, tìm địa điểm mới. Việc công khai thông tin ngay từ đầu cũng góp phần hạn chế những cách hiểu khác nhau giữa các hộ cùng địa bàn.

Các tiêu chí xác định khu vực không được phép chăn nuôi theo Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND.
Một yêu cầu không thể xem nhẹ là việc lập danh sách, chuẩn bị di dời được triển khai song hành với xử lý những vấn đề môi trường đang diễn ra. Đối với dòng suối tại tổ dân phố Quyết Thắng, thông tin về kết quả kiểm tra, nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn nước và biện pháp khắc phục tương ứng được công khai để người dân theo dõi.
Với những cơ sở còn hoạt động trong khu dân cư, chính quyền tăng cường hướng dẫn thu gom, xử lý chất thải, kiểm tra việc chấp hành và tiếp nhận phản ánh. Khi có cơ sở thực hiện di dời, các biện pháp bảo vệ môi trường tại địa điểm cũ vẫn được duy trì cho đến khi hoạt động chăn nuôi chấm dứt.
Về lâu dài, tổ chức lại không gian chăn nuôi gắn với điều kiện phát triển của từng địa phương sẽ tạo thuận lợi cho cả sản xuất và đời sống dân cư. Địa điểm tiếp nhận cơ sở phải phù hợp quy hoạch, đáp ứng yêu cầu về hạ tầng, khoảng cách an toàn và xử lý chất thải, tránh chuyển bất cập từ khu dân cư này sang nơi khác.
Với hộ không đủ điều kiện duy trì nghề, phương án chuyển đổi sinh kế được tính toán từ sớm, phù hợp khả năng và điều kiện của từng gia đình. Mục tiêu là giảm số chuồng trại xen trong khu dân cư, tạo điều kiện để hoạt động sản xuất được duy trì ở nơi phù hợp, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường và đời sống của người dân xung quanh.
Từ nỗi lo về dòng suối ở Quyết Thắng đến những khó khăn phía sau mỗi chuồng trại, việc tổ chức lại hoạt động chăn nuôi cần được triển khai đồng bộ với xử lý môi trường và hỗ trợ sinh kế.
Khi các điểm ô nhiễm được kiểm tra, xử lý kịp thời, khu vực phải di dời được xác định rõ, chính sách hỗ trợ được triển khai sát thực tế, người dân sẽ có thêm điều kiện ổn định cuộc sống, hoạt động chăn nuôi được sắp xếp phù hợp hơn.
Xử lý tốt những vấn đề phát sinh trước mắt, đồng thời chủ động quy hoạch, bố trí không gian chăn nuôi hợp lý sẽ góp phần hạn chế ô nhiễm tái diễn, bảo đảm môi trường sống và duy trì sinh kế cho người dân.
(Còn nữa)
Nguồn: Báo Thái Nguyên
