(Người Chăn Nuôi) – Trong chăn nuôi bò cái sinh sản, người chăn nuôi khi đã chọn được những con nái đẻ tốt và có thành tích sinh sản cao thì cần làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý đàn nái thời điểm mang thai và sau khi sinh con để giảm thiểu rủi ro, rút ngắn khoảng cách lứa đẻ/năm, nâng cao tỷ lệ đẻ/năm và từ đó sẽ giúp cho các nhà chăn nuôi đạt được hiệu quả năng suất cao nhất trong quá trình đầu tư.
Chuồng nuôi
Chuồng nuôi bò chờ đẻ bố trí ở nơi yên tĩnh, tránh gây xáo động, sân vận động cho bò phải thoáng, bằng phẳng, cống rãnh không được quá sâu, bờ ngăn cách sân và chuồng không quá cao. Tuyệt đối không được gần nơi có chó thả rông.
Tốt nhất là có người biết chuyên môn trực đỡ đẻ cho bò và phải trực 24 giờ/ngày. Trước khi đưa bò về chuồng đẻ cần phải vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, đảm bảo nền chuồng cao ráo, không trơn. Máng ăn, máng uống cần được cọ rửa sạch sẽ; chuẩn bị đệm lót chuồng cho bò đẻ; tắm chải rửa sạch các phần trên cơ thể bò.
Quan sát chẩn đoán bò sắp đẻ
Bò sắp đẻ đi lại nặng nề, bước chân không chính xác, bầu vú căng, mông sụt, âm hộ sưng to, có dịnh nhờn chảy ra. Bò có biểu hiện đau đớn, đi lại khó khăn, tâm trạng bồn chồn, hay đứng lên nằm xuống, hay đái dắt, đuôi thường cong lên.
Người nuôi bò đẻ quan sát thấy các hiện tượng trên phải rửa sạch phần thân sau bò cái, lau khô, sát trùng bộ phận sinh dục bên ngoài của bò, cho bò vào chuồng đẻ đã chuẩn bị sẵn, có lớp cỏ khô sạch lót nền dày 3 – 5 cm. Đồng thời cần chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ cho bò, báo cho bác sỹ thú y biết.

Một số trường hợp bác sỹ thú y hoặc người nuôi hỗ trợ cho bò đẻ. Ảnh: pennlive
Chuẩn bị dụng cụ
Nước ấm, muối, thuốc sát trùng, khăn lau khô, mềm, dao, panh, dây thừng, chỉ, kim khâu, kìm mỏ vịt, chậu, khay… Tất cả dụng cụ trên sát trùng trước khi dùng.
Trước khi bò đẻ, nên mời bác sĩ thú y đến khám, xác định vị trí ngôi thai xem có thuận không, nếu không thuận phải tìm cách xoay thai lại cho thuận. Trường hợp không xoay thai được phải chuẩn bị phương án can thiệp. Dụng cụ can thiệp gồm: cưa dây, dao, kéo chuyên dùng, kìm mỏ vịt, kim, chỉ khâu, thuốc kháng sinh, thuốc sát trùng…
Phương pháp đỡ đẻ
Khi đỡ đẻ cho bò phải giữ tuyệt đối yên tĩnh. Để bò đẻ tự nhiên là phương pháp tốt nhất, tuy nhiên trong những trường hợp thai quá to thì để đẻ tự nhiên sẽ rất lâu, bò mẹ phải rặn đẻ nhiều bị mất sức nên cần có sự hỗ trợ của bác sỹ thú y hoặc người nuôi. Rửa sạch tay bằng xà phòng, cồn, mang bao tay (vô trùng).
Bò đẻ bình thường: Sau khi vỡ bọc nước ối (nếu bọc nước ối không tự vỡ, người nuôi phải chọc nhẹ làm rách bầu nước ối cho hở miệng, mũi của bê, tránh làm bê ngạt thở) khi thấy 2 chân trước và đầu bê nhô ra khoảng 15 – 20 phút mà bò không tự đẻ được thì phải hỗ trợ bằng cách dùng tay kéo nhẹ thai ra.
Hỗ trợ bò đẻ: Người đỡ đẻ hoặc bác sỹ thú y dùng tay cầm 2 chân trước của bê kéo nhẹ theo nhịp rặn đẻ, kéo theo chiều dọc thân bê, tuyệt đối không kéo sai với nhịp rặn đẻ của bò mẹ. Trường hợp bê quá to mà khung xương chậu bò mẹ quá hẹp phải tăng người kéo bê, tránh để lâu gây mất sức bò mẹ. Trường hợp không thể dùng biện pháp kéo bê ra được phải mời bác sỹ thú y giỏi, có kinh nghiệm phẫu thuật để lấy bê ra, hoặc cắt bê thành từng mảnh trong dạ con để cứu bò mẹ.
Sau khi bê được đẻ ra, lấy khăn sạch và mềm để móc hết những chất nhầy trong mũi, miệng ra giúp bê hô hấp dễ dàng. Tiến hành cắt rốn cho bê, để bê cho bò mẹ liếm đến khô, sau đó cho bê vào cũi và cho ăn sữa đầu trong vòng 1 giờ ngay sau khi bò đẻ. Cũi bê được lót bằng rơm khô, cỏ khô mềm và sạch. Nếu bò đẻ vào thời tiết lạnh thì cần sưởi ấm cho bò mẹ và bê con, chuồng trại che chắn kín gió.
Phương pháp cắt dây rốn
Dùng ngón trỏ và ngón cái vuốt máu, dịch trong dây rốn theo chiều từ trong ra ngoài, dùng kéo đó được sát trùng cắt dây rốn (để 5 cm). Giữ chuồng và cũi nuôi luôn khô sạch để chống viêm rốn.
Chăm sóc bò sau đẻ
Bò mẹ sau khi đẻ cho uống nước ấm có pha muối 2% và thức ăn dễ tiêu. Bò đẻ thường mất thời gian 4 – 6 giờ và ra nhau thai khoảng 30 – 60 phút, chậm thì 2 – 3 giờ tự động ra, nếu sau 1 ngày không thấy nhau ra hết (gọi hiện tượng sót nhau) thì phải mời cán bộ thú y can thiệp, không nên tự ý móc nhau nguy hiểm đến tính mạng bò mẹ. Dùng nước muối sinh lý 0,9%, thuốc tím 0,1% thụt rửa tử cung, lau rửa mép âm đạo, rửa bầu vú bằng nước xà phòng ấm trước khi cho bê bú, cân bê trước khi cho bú sữa đầu và cho bú càng sớm càng tốt, chậm nhất là 1 giờ sau khi đẻ.
Sau khi bò đẻ, cần theo dõi tình trạng sức khỏe bò mẹ về màu sắc, lượng và mùi dịch hậu sản; kiểm tra thân nhiệt bò mẹ ngày 2 lần (sáng, chiều) liên tục trong 2 – 3 ngày đầu để kịp thời can thiệp trong trường hợp bò mẹ bị sốt, viêm vú, viêm tử cung,…
Sau khi đẻ 3 – 4 ngày nếu bò bình thường thì cho bò ăn khẩu phần tăng dần về thức ăn tinh, cỏ ở giai đoạn này thường chưa cho bò ăn hết khẩu phần. Sau 10 ngày cho bò ăn bình thường. Trong thời gian 15 – 20 ngày đầu sau khi đẻ có thể cho bò mẹ ăn thêm cháo (0,5 – 1 kg thức ăn tinh/con/ngày) và 30 – 40 g muối ăn + 30 – 40 g bột xương, có đủ cỏ non xanh ăn tại chuồng. Những ngày sau, trong suốt thời gian nuôi con, một ngày cho bò mẹ ăn 35 – 40 kg cỏ tươi, 1 – 2 kg rơm 11 và 1,5 – 2 kg thức ăn tinh hỗn hợp để bò mẹ phục hồi sức khỏe, nhanh động dục lại để phối giống.
Nếu bò đẻ không có sữa cần lấy sữa của bò mẹ không bị bệnh hoặc pha sữa bột cho bê bú. Sau khi bú 7 – 10 ngày sữa đầu thì chuyển sang chế độ nuôi bê từ 0 – 6 tháng tuổi.
Luôn chú ý cung cấp đầy đủ nước sạch cho bò uống (30 – 80 lít/con/ngày).
Thanh Hiếu
