13 tiến bộ kỹ thuật mở đường cho chăn nuôi xanh – số hóa

(Người Chăn Nuôi) – Ngày 27/8, tại phường Hải Dương (TP Hải Phòng), Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng phối hợp Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức Hội thảo “Giới thiệu tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi”. Tại đây, 13 tiến bộ kỹ thuật tiêu biểu về giống, dinh dưỡng và môi trường đã được giới thiệu rộng rãi, kỳ vọng tạo “cú hích” giúp ngành chăn nuôi nâng năng suất, hạ chi phí và giảm phát thải theo hướng xanh – bền vững, gắn với chuyển đổi số.

Hội thảo quy tụ lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đại diện hiệp hội, tập đoàn chăn nuôi; lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh, thành: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Phòng; cùng nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân tiêu biểu. 

Giới thiệu tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi

Các đại biểu tham dự Hội thảo. Ảnh: Quốc Vinh

Trọng tâm thảo luận xoay quanh: thực trạng công nhận tiến bộ kỹ thuật giai đoạn 2023 – 2025; định hướng công nhận trong thời gian tới để phát triển chăn nuôi bền vững; và các giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ về giống, nuôi dưỡng, quản lý – tự động hóa, chuyển đổi số, chế biến và xử lý môi trường.

Theo Ban Tổ chức, các tiến bộ kỹ thuật nổi bật được giới thiệu lần này gồm 9 tiến bộ về giống vật nuôi năng suất cao, 3 về dinh dưỡng – thức ăn và 1 về công nghệ xử lý môi trường. Đây là những giải pháp nhằm trực diện vào ba “nút thắt” lớn của ngành: chất lượng con giống, chi phí thức ăn và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính. 

Ông Lê Minh Lịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, khẳng định chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật là “động lực then chốt” để nâng sức cạnh tranh của chăn nuôi Việt Nam. “Chúng tôi đang hướng tới một nền chăn nuôi xanh – tuần hoàn – hữu cơ, gắn với chuyển đổi số để thích ứng biến đổi khí hậu,” ông nói. Theo đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Hải Phòng, áp dụng đồng bộ công nghệ mới đã giúp nhiều trang trại tăng năng suất 15 – 20%, giảm rủi ro dịch bệnh, tạo sản phẩm đạt chuẩn OCOP 3 – 4 sao với giá bán cao hơn thị trường 25 – 30%. Tuy nhiên, “nút thắt” cần tháo gỡ là tăng cường liên kết chuỗi giá trị để bảo đảm đầu ra ổn định.

Ở góc độ chuyển giao, bà Phạm Thùy Linh (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia) cho biết từ năm 2023 đến nay, hoạt động khuyến nông trung ương tập trung vào các nhóm: chăn nuôi an toàn sinh học, VietGAHP, chăn nuôi tuần hoàn, chăn nuôi có kiểm soát dịch bệnh, chăn nuôi gắn với du lịch sinh thái phù hợp từng vùng. Cùng với đó là các quy trình nuôi tiến tiến theo hướng tiết kiệm vật tư – chi phí đầu vào; xử lý chất thải, bảo vệ môi trường; triển khai dự án trên nhiều đối tượng như lợn, gia cầm, trâu, bò; mở rộng sang ong, tằm, dê, cừu… với mục tiêu nhân rộng mô hình thực hành tốt.

Song hành với tăng trưởng, mô hình kinh tế tuần hoàn đang được nhiều địa phương thí điểm và nhân rộng. Tiêu biểu là chăn nuôi ruồi lính đen xử lý chất thải, tận dụng ấu trùng làm thức ăn và phân bón hữu cơ; chăn nuôi giun quế để xử lý chất thải và làm nguồn thức ăn – phân bón; dùng đệm lót sinh học từ phụ phẩm trồng trọt để cải thiện môi trường chuồng nuôi; ủ phân chuồng từ phụ phẩm làm phân hữu cơ; xử lý rơm, thân ngô làm thức ăn thô xanh; phát triển công trình khí sinh học (biogas) tạo năng lượng tái tạo cho sản xuất và sinh hoạt.

Thách thức lớn nằm ở quản lý môi trường. Mỗi năm, chăn nuôi phát sinh trung bình 63,2 triệu tấn phân và 348,9 triệu m³ nước thải cần được xử lý, tái sử dụng an toàn. Phát thải khí nhà kính trong chăn nuôi tăng theo quy mô: năm 2020 ước 30,94 triệu tấn COtđ, dự kiến năm 2025 là 34,1 triệu tấn COtđ. Hai nguồn phát thải chính là tiêu hóa của vật nuôi và quản lý chất thải. Điều này đòi hỏi các giải pháp kỹ thuật – quản trị đồng bộ, từ giống vật nuôi có hệ số chuyển hóa thức ăn tốt, khẩu phần cân đối, đến chuồng trại – thiết bị thu gom, xử lý chất thải, cùng lộ trình giảm kháng sinh và nâng chuẩn an toàn thực phẩm.

Đại diện Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nêu định hướng: lồng ghép tiêu chí “xanh, giảm phát thải, an toàn và hữu cơ” vào quy trình công nhận tiến bộ kỹ thuật; hoàn thiện hệ thống TCVN/QCVN cho thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi hữu cơ, giết mổ, chế biến và môi trường; đưa quản lý kháng sinh và an toàn thực phẩm trở thành tiêu chí bắt buộc khi công nhận tiến bộ kỹ thuật. Song song là thiết kế quy trình khép kín từ lựa chọn – thử nghiệm – đánh giá – công nhận – nhân rộng, bám sát 5 trụ cột ưu tiên: giống; thức ăn chăn nuôi; chuồng trại và môi trường; giết mổ, chế biến; thị trường và khoa học công nghệ/khuyến nông.

Để đo lường đúng hiệu quả “giảm phát thải”, Cục đề xuất chuẩn hóa hệ thống đo đạc – báo cáo – thẩm định (MRV) cho các tiến bộ kỹ thuật; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong toàn bộ quy trình công nhận và giám sát; tổ chức mô hình trình diễn có tính thực tiễn, khả năng nhân rộng tại các vùng an toàn dịch bệnh; và gắn kết chặt chẽ chuỗi từ sản xuất – giết mổ – chế biến – tiêu thụ. Cách tiếp cận này vừa gia tăng minh bạch, vừa tạo nền tảng cho tín chỉ carbon và các cơ chế tài chính xanh trong tương lai.

Trên bình diện chính sách, ông Lê Minh Lịnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục bố trí nguồn lực nghiên cứu, công nhận và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ. Hệ thống khuyến nông cần phát huy vai trò “hạ tầng mềm” của đổi mới sáng tạo: đẩy mạnh chuyển giao, số hóa quản lý mô hình, truy xuất nguồn gốc sản phẩm; phối hợp địa phương lựa chọn – nhân rộng mô hình phù hợp; tăng cường tập huấn gắn tiến bộ kỹ thuật với Chương trình nông thôn mới và OCOP. Doanh nghiệp, hợp tác xã được khuyến khích đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm đạt chuẩn VietGAHP, hữu cơ, hướng tới xuất khẩu.

Thùy Khánh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *