Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 2/2026

Tình hình chung

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & MT, trong tháng 2, thời tiết tương đối thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ngay sau kỳ nghỉ Tết, chăn nuôi tiếp tục xu hướng phục hồi, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, bảo đảm nguồn cung thực phẩm phục vụ tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán. Đàn lợn đang dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh và tiêu dùng sau dịp tết, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán 2026; tổng đàn lợn cả nước ước tính đến cuối tháng 2/2025 tăng 1,58%; đàn gia cầm duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, tổng số gia cầm cả nước ước tính tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn đang dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh và tiêu dùng sau dịp tết, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán 2026. Tình hình chăn nuôi tháng 1/2026 cụ thể:

– Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn tiếp tục xu hướng khôi phục sản xuất và tái đàn sau dịp Tết Nguyên đán. Tính đến cuối tháng 2/2026, tổng đàn lợn cả nước ước tính tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương đàn lợn tăng khá nhờ phát triển mạnh mô hình chăn nuôi trang trại, đồng thời kiểm soát tốt dịch bệnh: Gia Lai tăng 9,4%; Lâm Đồng tăng 7,5%; Lào Cai tăng 6,8%; TP. Hồ Chí Minh tăng 3,8%; Đắk Lắk tăng 2,8%; Đồng Nai tăng 2,4%. Tuy nhiên, nguy cơ phát sinh bệnh dịch tả lợn châu Phi vẫn còn cao, nhất là trong điều kiện thời tiết giao mùa. Các địa phương cần tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp phòng chống, kiểm soát dịch bệnh.

– Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng gia cầm sau Tết Nguyên đán. Các cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô lớn tiếp tục mở rộng sản xuất, bảo đảm nguồn cung cho thị trường. Tổng số gia cầm của cả nước tại thời điểm cuối tháng 02/2026 ước tính tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó đàn gà tăng 2,2%. Một số địa phương có đàn gia cầm tăng khá như: Nghệ An tăng 7,4%; Thanh Hóa tăng 5,8%; Tây Ninh tăng 3,6%; Đồng Nai tăng 2,8%. Tuy nhiên, tại một số tỉnh chịu ảnh hưởng của thời tiết bất lợi, dịch bệnh còn xuất hiện rải rác, đàn gia cầm giảm so cùng kỳ: Khánh Hòa giảm 2,6%, Đồng Tháp giảm 2,1%, Hải Phòng giảm 0,8%.

tình hình chăn nuôi tháng 2 2026

– Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục gặp khó khăn do hiệu quả kinh tế thấp, giá tiêu thụ thiếu ổn định trong khi chi phí thức ăn, con giống và công chăm sóc ở mức cao. Xu hướng chuyển đổi cơ cấu vật nuôi tại một số địa phương cũng góp phần làm giảm quy mô đàn. Việc tái đàn diễn ra chậm, chủ yếu duy trì ở các trang trại có liên kết tiêu thụ ổn định. Tổng số trâu của cả nước tại thời điểm cuối tháng 2/2026 ước tính giảm 4,4% so với cùng kỳ năm trước; tổng số bò giảm 2,1%.

– Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 2 năm 2026 ước đạt 59 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2026 đạt 140,7 triệu USD, tăng 84,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 34,1 triệu USD, tăng 2,4 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 33,1 triệu USD, tăng 23,9%.

– Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 2 năm 2026 ước đạt 414,6 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2026 đạt 849,4 triệu USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 252,9 triệu USD, tăng 11,8%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 370,9 triệu USD, tăng 28%.

– Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 2 năm 2026 ước đạt 320 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 2 tháng đầu năm 2026 đạt 708,6 triệu USD, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm trước.

– Về thú y: Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, trong tháng 2, nhìn chung tình hình dịch bệnh nguy hiểm trên động vật trên cạn cơ bản được kiểm soát, các ổ dịch xảy ra chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ tại các hộ chăn nuôi không đảm bảo điều kiện an toàn sinh học và chưa được tiêm phòng vắc xin đầy đủ, cụ thể như sau:

– Bệnh Cúm gia cầm: Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 07 ổ dịch tại 4 tỉnh với 24.671 con gia cầm chế, buộc tiêu huỷ (so với cùng ký năm trước, số ổ dịch tăng 01 ổ dịch).

– Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 225 ổ dịch tại 23 tỉnh, thành phố, với 12.676 con lợn chết, buộc tiêu huỷ. Hiện nay, cả nước có 78 ổ dịch bệnh tại 17 tỉnh, thành phố có bệnh Dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày.

Thị trường chăn nuôi

Trong 20 ngày đầu tháng 02/2026, giá thu mua lợn hơi trong nước biến động giảm so với cuối tháng 01/2026 tại cả ba miền. Cụ thể, giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 6.600 đồng/kg, dao động trong khoảng 71.000 – 73.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung – Tây Nguyên giảm 4.000 đồng/kg xuống còn 71.000 – 73.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tại miền Nam giảm 4.000 đồng/kg, hiện đang ở mức 70.000 – 72.000 đồng/kg. Giá lợn hơi giảm do sức mua giảm trong bối cảnh nhiều trường học, nhà máy nghỉ Tết. Dịp Tết Nguyên đán, sức mua thịt lợn vẫn duy trì ở mức cao nhưng do nguồn cung được đảm bảo, giá lợn hơi những ngày này ổn định. Do nguồn cung trước Tết đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, giá lợn hơi nhiều khả năng tiếp tục đi ngang trong ngắn hạn.

Trong tháng, giá thu mua gà thịt lông màu biến động giảm nhẹ tại ba miền trên cả nước. Giá gà thịt lông màu tại miền Bắc giảm 1.000 đồng/kg xuống còn 54.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu tại miền Trung giảm 3.000 đồng/kg, hiện ở mức 48.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu tại miền Nam giảm 500 đồng/kg xuống còn 48.000 đồng/kg. Giá gà giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào.

Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp tại miền Bắc tăng 3.000 đồng/kg lên 44.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp tại miền Trung giảm 3.000 đồng/kg xuống 28.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp tại miền Nam giảm 6.000 đồng/kg, hiện ở mức 27.000 đồng/kg.

Trong tháng 02/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 4/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động tăng với mức tăng 8,475 US cent/lb lên 95,725 US cent/lb. Giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu thụ tăng. Giá bò hơi kỳ hạn tháng 4/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò hơi) giảm 3,625 US cent/lb xuống 232,225 US cent/lb. Giá bò hơi giảm do sức mua trên thị trường giảm.

Thị trường xuất nhập khẩu

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 2 năm 2026 ước đạt 59 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2026 đạt 140,7 triệu USD, tăng 84,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 34,1 triệu USD, tăng 2,4 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 33,1 triệu USD, tăng 23,9%.

Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi năm 2025

Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 2 năm 2026 ước đạt 414,6 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 2 tháng đầu năm 2026 đạt 849,4 triệu USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 252,9 triệu USD, tăng 11,8%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 370,9 triệu USD, tăng 28%.

Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi (đang cập nhật)

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi

Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 2 năm 2026 ước đạt 320 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 2 tháng đầu năm 2026 đạt 708,6 triệu USD, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Hoa Kỳ, Áchentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 24,7%, 22,2% và 9,7%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 1 năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 86,5%, thị trường Trung Quốc tăng 39,9%, trong khi thị trường Áchentina giảm 29,1%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Malayxia với mức tăng 6,4 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Braxin với mức giảm 38,2%.

– Nhập khẩu ngô:

Khối lượng nhập khẩu ngô tháng 2 năm 2026 ước đạt 1,5 triệu tấn với giá trị đạt 371,8 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 2 tháng đầu năm 2026 đạt 2,9 triệu tấn và 723,5 triệu USD, tăng 98,9% về khối lượng và tăng 93,6% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá ngô nhập khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 245,9 USD/tấn, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước.

Braxin và Áchentina là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 56,9% và 13,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu ngô tháng 1 năm 2026 từ thị trường Braxin tăng 36,4%, trong khi thị trường Áchentina giảm 52,1%.

– Nhập khẩu đậu tương:

Khối lượng nhập khẩu đậu tương tháng 2 năm 2026 ước đạt 310 nghìn tấn với giá trị đạt 150,7 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 2 tháng đầu năm 2026 đạt 641,8 nghìn tấn và 305,6 triệu USD, tăng 79,1% về khối lượng và tăng 85% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 476,2 USD/tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Hoa Kỳ và Braxin với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 64% và 22,2%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu đậu tương tháng 1 năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ đạt 99,1 triệu USD, tăng 22,7%; thị trường Braxin đạt 34,4 triệu USD (cùng kỳ năm 2025 không phát sinh xuất khẩu sang thị trường này).

– Nhập khẩu lúa mì:

Khối lượng nhập khẩu lúa mì tháng 2 năm 2026 ước đạt 750 nghìn tấn với giá trị đạt 195,3 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu lúa mì 2 tháng đầu năm 2026 đạt 1,4 triệu tấn và 371,1 triệu USD, tăng 26,7% về khối lượng và tăng 24,7% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 260,4 USD/tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn cung cấp lúa mì chính của Việt Nam là từ các thị trường Ôxtrâylia, Braxin, Canađa, và Hoa Kỳ với thị phần lần lượt là 24,3%, 19,4%, 12,8%, và 6,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu lúa mì tháng 1 năm 2026 từ thị trường Ôxtrâylia tăng 2,5 lần, thị trường Canađa tăng 35,3%, thị trường Hoa Kỳ tăng 4,5 lần, trong khi thị trường Braxin giảm 37,1%.

Tổng hợp: Channuoivietnam.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *