Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 12/2025

Tình hình chung

Theo báo cáo tổng kết năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, trong bối cảnh phải đối mặt với thách thức từ dịch bệnh và thị trường, nhất là chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, ngành chăn nuôi và thú y đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc khôi phục và duy trì sản xuất với sự tăng trưởng cả về đầu con và sản lượng, công tác phòng chống dịch bệnh tiếp tục được triển khai đồng bộ và hiệu quả, các loại bệnh nguy hiểm như Dịch tả lợn châu Phi, Cúm gia cầm, Lở mồm long móng… được kiểm soát kịp thời, giảm thiểu thiệt hại.

Xu hướng chung chuyển đổi sang mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, chăn nuôi theo hướng hữu cơ (Hiện có 19 cơ sở chăn nuôi được chứng nhận sản phẩm sản xuất phù hợp TCVN về nông nghiệp hữu cơ), ứng dụng công nghệ cao (Đối với lĩnh vực chăn nuôi, hiện nay đã có Cty Ba Huân (trứng gia cầm), TH True milk (sữa) và 7 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dabaco (chăn nuôi lợn, gia cầm) triển khai mô hình chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao theo các tiêu chí quy định tại Quyết định số 66/2015/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ) từng bước chuyên nghiệp hóa quy trình sản xuất diễn ra từ các doanh nghiệp lớn đến hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

tình hình chăn nuôi 2025

Ngành chăn nuôi đang chuyển dịch nhanh từ hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang hình thức chăn nuôi trang trại tập trung (Theo số liệu ước tính về chăn nuôi theo hình thức trang trại, công nghiệp hiện nay là 55 – 56% đối với gia súc và 56 – 58% đối với gia cầm. Số kg thức ăn chăn nuôi tiêu tốn để có 1kg tăng trọng đối với lợn là 2,4 – 2,5 kg và đối với gia cầm là 2,3 – 2,4 kg) và các hộ lớn, hộ chăn nuôi chuyên nghiệp là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm, bảo đảm sự phát triển bền vững, đồng thời góp phần đạt được các mục tiêu tăng trưởng chung của ngành Nông nghiệp và Môi trường đề ra trong năm 2025 (Tổng sản lượng thịt hơi các loại khoảng 8,6 triệu tấn, tăng 4,3% so với năm 2024. Trong đó, sản lượng thịt lợn hơi ước đạt 5,4 triệu tấn, tăng 3,9%; thịt gia cầm đạt 2,6 triệu tấn, tăng 5,9%; thịt trâu khoảng 125,2 nghìn tấn, giảm 0,9%; sản lượng thịt bò khoảng 499,1 nghìn tấn, tăng 1,7%; sản lượng sữa 1,3 triệu tấn, tăng 5,8%, trứng khoảng 21,4 tỷ quả, tăng 5,3%).

Giai đoạn 2021 – 2025, Bộ đã tập trung chỉ đạo, phối hợp địa phương triển khai thực hiện các nhóm giải pháp phát triển trọng tâm, về cơ bản cơ cấu sản phẩm chăn nuôi đạt được theo định hướng cơ cấu lại và phù hợp với mục tiêu của Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 (Chăn nuôi lợn chuyển từ các vùng có mật độ dân số cao như Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ sang vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc. Chăn nuôi gà ổn định cơ cấu và quy mô tại vùng Đồng bằng sông Hồng, Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng sang vùng Tây Nguyên. Chăn nuôi bò thịt phát triển ở các vùng Duyên hải miền Trung và Trung du miền núi phía Bắc; chăn nuôi bò sữa ở các vùng truyền thống và có khả năng đầu tư công nghệ cao như Mộc Châu, Ba Vì, Nghệ An, Thanh Hóa, Gia Lai, Lâm Đồng, TP. Hồ Chí Minh…). Ngành chăn nuôi đang chuyển dịch nhanh từ hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang hình thức chăn nuôi trang trại tập trung và các hộ lớn, hộ chăn nuôi chuyên nghiệp là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm. Nhiều địa phương đã tổ chức liên kết theo chuỗi sản phẩm từ sản xuất đến thị trường, trong đó doanh nghiệp là nòng cốt, xác định các chuỗi ngành hàng lợi thế của địa phương. Hiện nay, một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (như Đắk Nông, Gia Lai, Bình Phước, Tây Ninh…) có tốc độ tăng trưởng chăn nuôi cao khi các doanh nghiệp chăn nuôi mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Các chuỗi giá trị liên kết, ngành hàng được hình thành: Doanh nghiệp – trại chăn nuôi, doanh nghiệp-HTX-nông hộ để giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng, trong đó ưu tiên phát triển chăn nuôi bền vững theo hướng hữu cơ, an toàn sinh học.

Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, một số kết quả chính về phát triển, sản xuất chăn nuôi và thị trường sản phẩm chăn nuôi năm 2025 cụ thể:

Chăn nuôi lợn: Ước tính tổng đàn lợn của cả nước thời điểm cuối tháng 11/2025 đạt 26,55 triệu con (khoảng 31,2 triệu con bao gồm lợn con chưa tách mẹ), tăng khoảng 0,3% so với cùng thời điểm năm trước.

Chăn nuôi gia cầmƯớc tính tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 11/2025 là 583,98 triệu con, tăng khoảng 2,8% so với cùng thời điểm năm 2024.

Chăn nuôi trâu, bòƯớc tính tổng số trâu của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 11/2025 là 2,0 triệu con, giảm khoảng 4%, tổng số bò là 6,18 triệu con, giảm khoảng 1,1%.

Sản lượng sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu nămTổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6.440,2 nghìn tấn (tăng 4,63%); Trứng gia cầm 15,7 tỷ quả, tăng 4,9%; Sữa 997,3 nghìn tấn, tăng 5,8%. Tốc độ tăng GTSX ngành chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2025 đạt 4,77%.

Thức ăn chăn nuôiSản lượng sản xuất TAHH trong tháng 11 tháng đầu năm 2025 đạt 20,04 triệu tấn (trong đó TAHH cho lợn 10,5 triệu tấn, TAHH gia cầm 8,9 triệu tấn). Ước tính cả năm 2025, sản lượng sản xuất 22,12 triệu tấn, trong đó TAHH cho lợn ước đạt 11,6 triệu tấn, TAHH cho gia cầm ước đạt 9,8 triệu tấn).

tình hình chăn nuôi

Tình hình nghiên cứu sản xuất, nhập khẩu và cung ứng các loại vắc xin:

– Về sản xuất, cung ứng, sử dụng vắc xin DTLCP: Số lượng vắc xin đã sản xuất 11 tháng đầu năm 2025 là trên 2,9 triệu liều; Số lượng vắc xin đang bảo quản tại kho trên 1,5 triệu liều; Dự kiến sản xuất trong tháng 12 năm 2025: 650 nghìn liều.

– Về sản xuất, nhập khẩu, cung ứng và sử dụng vắc xin quan trọng khác (Cúm gia cầm, LMLM, Tai xanh, Dại, VDNC)  trong 11 tháng đầu năm và dự kiến sản xuất, nhập khẩu trong tháng 12 năm 2025, cụ thể:

+ Vắc xin cúm gia cầm: Số lượng vắc xin đã sản xuất, nhập khẩu 11 tháng là trên 918,3 triệu liều; Số lượng vắc xin đang bảo quản tại kho trên 116,7 triệu liều; Dự kiến sản xuất, nhập khẩu trong tháng 12 năm 2025: trên 152,2 triệu liều;

+ Vắc xin Lở mồm long móng: Số lượng sản xuất, nhập khẩu 11 tháng là trên 41,1 triệu liều; Số lượng vắc xin đang bảo quản tại kho trên 9,5 triệu liều; Dự kiến sản xuất, nhập khẩu trong tháng 12 năm 2025 trên 1,2 triệu liều;

+ Vắc xin tai xanh: Số lượng sản xuất, nhập khẩu 11 tháng là trên 42,4 triệu liều; Số lượng vắc xin đang bảo quản tại kho trên 10,1 triệu liều; Dự kiến sản xuất, nhập khẩu trong tháng 12 năm 2025 trên 4,4 triệu liều;

+ Vắc xin Dại: Số lượng sản xuất, nhập khẩu 11 tháng là xấp xỉ 5,7 triệu liều; Số lượng vắc xin đang bảo quản tại kho trên 3,8 triệu liều; Dự kiến sản xuất, nhập khẩu trong tháng 12 năm 2025 trên 1,8 triệu liều;

+ Vắc xin Viêm da nổi cục (VDNC): Số lượng sản xuất, nhập khẩu 11 tháng xấp xỉ 1,4 triệu liều; Số lượng vắc xin đang bảo quản tại kho trên 292,5 nghìn liều; Dự kiến sản xuất, nhập khẩu trong tháng 12 năm 2025 420 nghìn liều.

– Hiện nay, cả nước có 93 công ty sản xuất thuốc thú đạt Chứng nhận thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP); 82 công ty sản xuất thuốc thú y được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y; 02 công ty sản xuất được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y có chứa tiền chất ma túy; 300 công ty được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu thuốc thú y.

– Đã có 18.451 sản phẩm đăng ký lưu hành (sản xuất trong nước: 14.610 sản phẩm, nhập khẩu: 3.841 sản phẩm), bao gồm: (i) Kháng sinh: 9.233 sản phẩm sản xuất trong nước, 1.891 sản phẩm nhập khẩu; Vắc xin: 229 sản phẩm sản xuất trong nước, 736 sản phẩm nhập khẩu; Loại khác: 3.202 sản phẩm sản xuất trong nước; 771 sản phẩm nhập khẩu; Vitamin: 1.246 sản phẩm sản xuất trong nước, 221 sản phẩm nhập khẩu; Hóa chất: 695 sản phẩm sản xuất trong nước, 214 sản phẩm nhập khẩu; và Tiền chất ma túy: 5 sản phẩm sản xuất trong nước, 8 sản phẩm nhập khẩu.

Về thú y: Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, tính đến cuối tháng 11 tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm như sau:

– Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Tính từ đầu năm 2025, cả nước xảy ra 2.453 ổ dịch (tăng 53,93% so với CKNT) tại 1.685 xã, phường thuộc 34 tỉnh, thành phố; số lợn chết và tiêu hủy là 1.229.377 con lợn (tăng hơn 13 lần so với CKNT). Đến cuối tháng 11/2025, cả nước có 467 ổ dịch bệnh DTLCP tại 31 tỉnh, thành phố có bệnh DTLCP chưa qua 21 ngày.

– Bệnh Cúm gia cầm (CGC): Tính từ đầu năm 2025, cả nước có 44 ổ dịch CGC tại 14 tỉnh/Tp; số gia cầm tiêu huỷ là 102.233 con; so sánh với cùng kỳ năm (CKN) 2024, số ổ dịch tăng 3,14 lần, số gia cầm tiêu hủy tăng 4,32%. Đến cuối tháng 11/2025, cả nước có 06 ổ dịch CGC thuộc 04 tỉnh Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hòa chưa qua 21 ngày.

– Bệnh Lở mồm long móng (LMLM): Tính từ đầu năm 2025, cả nước có 17 ổ dịch thuộc 09 tỉnh, số gia súc mắc bệnh là 456 con, số gia súc chết và tiêu huỷ là 42 con; so sánh với CKN 2024, số ổ dịch giảm 76,38%, số động vật tiêu huỷ bắt buộc giảm hơn 74,23%. Đến cuối tháng 11/2025, cả nước có 04 ổ dịch bệnh Lở mồm long móng tại 02 tỉnh Tuyên Quang và Sơn La chưa qua 21 ngày.

– Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC): Tính từ đầu năm 2025, cả nước có 86 ổ dịch tại 12 tỉnh/Tp; số trâu, bò mắc bệnh là 326 con, số chết và tiêu huỷ là 142 con; so sánh với CKN 2024, số ổ dịch giảm 41,89%, số gia súc tiêu hủy giảm hơn 15,97%. Đến cuối tháng 11/2025, cả nước có 02 ổ dịch bệnh Viêm da nổi cục tại 02 tỉnh Nghệ An và Quảng Ngãi chưa qua 21 ngày.

– Bệnh Tai xanh: Tính từ đầu năm 2025, cả nước xảy ra 01 ổ dịch bệnh Tai xanh tại tỉnh Cà Mau, số lợn mắc bệnh là 01 con, số lợn tiêu huỷ là 01 con; so sánh với CKN 2024, số lợn tiêu huỷ giảm 97,5%. Đến cuối tháng 11/2025, cả nước không có ổ dịch bệnh Tai xanh.

– Bệnh Dại: Bệnh Dại trên người: Theo báo cáo của ngành Y tế, từ đầu năm đến nay, cả nước có 70 trường hợp tử vong do bệnh Dại tại 20 tỉnh, thành phố, giảm 11 trường hợp so với cùng kì năm 2024 (81 trường hợp); trong đó có Gia Lai (08 ca), Đắk Lắk (07 ca), Đồng Nai (06 ca), Lào Cai, Nghệ An, Lâm Đồng (05 ca); Bệnh Dại trên động vật: Tính từ đầu năm 2025, cả nước có 264 ca bệnh Dại thuộc 24 tỉnh, thành phố; số động vật tiêu huỷ bắt buộc là 344 con; so sánh với CKN 2024, số ổ dịch giảm 16,09%, số động vật tiêu huỷ bắt buộc giảm hơn 46,15%. Đến cuối tháng 11/2025, cả nước có 13 ổ dịch bệnh Dại động vật tại 06 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày.

– Bệnh Dịch tả gia súc nhỏ loài nhai lai: Từ ngày 23/10/2025, Trung tâm Chẩn đoán và Xét nghiệm thú y Trung ương II có Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm số H125100301 kết luận có 01 mẫu bệnh phẩm dê dương tính với vi rút PPR được lấy từ ngày 21/10/2025. Đây là trường hợp phát hiện ca bệnh dương tính với vi rút PPR đầu tiên tại Việt Nam. Trên cơ sở Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm trên, Cục Chăn nuôi và Thú y đã tổ chức triển khai, ứng phó với ngủy cơ dịch bệnh PPR lây lan thông qua việc tổ chức các đoàn công tác điều tra, xác minh về ca bệnh PPR trên dê.

Thị trường chăn nuôi

Giống vật nuôi: Giá giống dự báo sẽ duy trì ở mức cao và sẽ tăng do nhu cầu tái đàn tăng và áp lực chi phí vận chuyển, thức ăn chưa thể tháo gỡ nhanh. (Lợn 2,5 – 3 triệu/con, gà 10 – 15 nghìn/con)

Nguyên liệu TACN: Giá một số nguyên liệu TACN chính trong tháng 11/2025 ổn định và tăng nhẹ so với tháng 10/2025, riêng giá DDGS 6.824 đg/kg, tiếp tục theo xu hướng giảm (giảm 2,1% so với tháng 10/2025). Giá bình quân các loại TAHH chính biến động tăng, giảm tùy loại. Cụ thể theo phụ lục kèm theo.

Giá thịt lợn hơi trên cả nước: Trong tháng 11/2025, giá thịt lợn hơi xuất chuồng tiếp tục theo xu hướng giảm, có thời điểm xuống dưới 48.000 đg/kg đến tuần cuối tháng thì giá hồi phục lên mức trên 50.000 đg/kg. Tính chung, giá bình quân cả nước khoảng 49.500 đg/kg (giảm 6,5% so với bình quân tháng 10 và giảm 18,8% so với bình quân cùng kỳ năm 2024), đây là mức giá thấp nhất kể từ thời điểm đầu năm 2024, đồng thời giảm khoảng 35% so với thời điểm cao nhất trong năm là tuần đầu tháng 03/2025 (giá bình quân là 82 nghìn đg/kg). Hiện nay, tại khu vực miền Bắc và miền Nam giá dao động từ 53.000 – 57.000 đg/kg, tại các tỉnh khu vực miền Trung giá ở mức thấp hơn, dao động từ 51.000 – 54.000 đg/kg. Mức giá trong nước hiện cao hơn các tỉnh khu vực phía Nam của Trung Quốc (dao động từ 41.000 – 45.000 đg/kg), Lào (dao động từ 38.000 – 48.000 đg/kg) và Campuchia (dao động từ 47.000 – 53.000 đg/kg) và thấp hơn một số nước khác trong khu vực.

Theo nhận định chung, khi tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm cho các dịp Lễ, Tết cuối năm sẽ tăng cao (dự báo tăng khoảng 10 – 15% so với thời điểm khác trong năm, kéo theo giá thịt lợn hơi sẽ ngừng giảm và tăng giá trở lại), nhưng thực tế tình hình sản xuất đang cho thấy những tín hiệu trái chiều: (i) Một mặt, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ tỏ ra rất e ngại tái đàn do giá thịt lợn đang giảm mạnh, tác động thiên tai nặng nề (nhất là miền Trung) và rủi ro dịch bệnh; (ii) Mặt khác, các doanh nghiệp lớn và các địa phương trọng điểm như Quảng Trị, Tây Ninh, Đồng Nai vẫn duy trì được năng lực cung ứng ổn định và quy mô lớn.

Sau thời gian tăng mạnh, giá gà thịt công nghiệp lông trắng và gà thịt lông màu nuôi công nghiệp cũng như giá các sản phẩm gia cầm nói chung đã theo xu hướng giảm so với bình quân trong tháng 9,10/2025. Cụ thể, trong tháng 11/2025, giá gà thịt lông màu nuôi công nghiệp bình quân là 53.700 đg/kg, tương ứng giảm 8,4% so với tháng 10/2025 (tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2024), gà công nghiệp lông trắng bình quân 32.800 đg/kg, tương ứng giảm 14,7% so với tháng 10/2025 và giảm 3,4% so với cùng kỳ năm 2024. Dự báo đến cuối năm 2025, ngành chăn nuôi gia cầm sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Với tổng đàn ước đạt hơn 605 triệu con, sản lượng thịt gia cầm ước đạt 2,6 triệu tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2024, dẫn đến nguồn cung thịt và trứng gia cầm được đánh giá là rất dồi dào, đủ sức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Âm lịch.

Thị trường xuất nhập khẩu

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 11/2025 ước đạt 53,5 triệu USD (giảm 12,2% so với tháng 10/2025) nâng tổng kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đầu năm 2025 đạt 567 triệu USD (Trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản khoảng 64 tỷ USD), tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2024 (trong đó, thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật tăng 20,8%); Lượng thịt lợn, lợn sữa và lợn choai đông lạnh nguyên con đã xuất khẩu đạt 583,6 nghìn con, quy đổi khoảng 8 nghìn tấn (tương đương 57,9 triệu USD); lượng thịt gia cầm đã qua giết mổ xuất khẩu đạt gần 5,6 nghìn tấn (tăng 16,5% so với cùng kỳ).

Theo số liệu của AgroMonitor, tính đến 25/11/2025, Việt Nam đã xuất khẩu gần 1.200 con lợn sống; sang Lào, Campuchia (giảm 29% về lượng nhưng cao hơn 20% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024, phản ánh mức giá bình quân trên mỗi con tăng lên rõ rệt trong năm nay). Tổng kim ngạch xuất khẩu bò sống của Việt Nam kể từ đầu năm đạt trên 37,2 triệu USD (tăng gấp 2,5 lần so với cùng kỳ). Tổng lượng gà giống xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 12,7 triệu con (tăng 138,4% so với cùng kỳ năm trước), bao gồm gà giống hướng trứng, gà trắng giống và gà màu giống. Tổng lượng trứng gia cầm xuất khẩu 1,36 triệu USD (giảm 34,7% so với cùng kỳ).

Thức ăn gia súc và nguyên liệu: Tính chung 11 tháng đầu năm 2025, nước ta đã xuất khẩu khoảng 1,29 tỷ USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm 2024. Riêng mặt hàng cám gạo xuất chính ngạch: Việt Nam và Trung Quốc đã nâng cấp Bản ghi nhớ về xuất khẩu cám gạo năm 2016 lên Nghị định thư về xuất khẩu cám gạo và cám gạo chiết ly (ký ngày 15/4/2025). Ngoài 8 doanh nghiệp đã có mã số xuất khẩu được tiếp tục, có 4 doanh nghiệp mới được GACC cấp mã số, nâng tổng số các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cám gạo sang Trung Quốc là 12 công ty. Hiện mỗi tháng xuất được khoảng 100 ngàn tấn, ước tính xuất khẩu 1,0-1,2 triệu tấn/năm, giá trị 400-500 triệu USD/năm.

Thuốc thú y: Năm 2025, Việt Nam đã xuất khẩu được trên 2.409 loại thuốc thú y và 07 loại vắc xin thú y cho trên 46 quốc gia/vùng lãnh thổ, với giá trị xuất khẩu trên 42,8 triệu USD/ năm (giá trị xuất khẩu tăng 150% so năm 2024).

Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi năm 2025

Giá trị nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 11/2025 ước khoảng 366 triệu USD nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2025 khoảng 4,01 tỷ USD (Trong tổng kim ngạch nhập khẩu nông lâm thủy sản khoảng 44,45 tỷ USD), tăng 20,2% so với cùng kỳ năm 2024 (trong đó, thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật tăng 14,2%).

Theo báo cáo của AgroMonitor, tính chung đến 25/11/2025, tổng lượng thịt và phụ phẩm từ thịt lợn nhập khẩu là 277 nghìn tấn (tăng 33%); thịt và phụ phẩm thịt từ trâu/bò là 194,4 nghìn tấn (giảm 7%) – riêng thịt trâu chiếm chủ yếu với 78% nhập về từ Ấn Độ, còn thịt bò chủ yếu nhập về từ Úc và Canada (42,7 nghìn tấn – giảm 23% so với cùng kỳ năm trước); thịt gia cầm đã qua giết mổ 268,9 nghìn tấn (tăng 2,8%) so với cùng kỳ năm 2024.

Đối với nhập khẩu giống: tính đến ngày 25/11, tổng lượng lợn giống Việt Nam đã nhập khẩu hơn 6.300 con, tăng gấp 57% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượng nhập về khu vực miền Nam chiếm 77% và số lượng lợn nái khoảng 90%); tổng lượng gà trắng giống bố, mẹ hướng thịt nhập khẩu là 2,8 triệu con (tăng gần 18% so với cùng kỳ năm trước); tổng lượng gà màu giống bố mẹ hướng thịt, nhập khẩu đạt hơn 763,2 nghìn con (tăng 28,1% so với cùng kỳ năm 2024).

Trâu, bò sống: Việt Nam đã nhập trên 367,2 nghìn con, tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước (77% lượng nhập về từ Thái Lan), toàn bộ lượng nhập về đều là trâu, bò thịt phục vụ giết mổ thương phẩm.

Nhập khẩu nguyên liệu TACN 11 tháng đầu năm 2025: Tổng khối lượng nhập khẩu 23,1 triệu tấn (tương đương 7,67 tỷ USD). Trong đó, thức ăn giàu đạm 8,85 triệu tấn (tương đương 3,31 tỷ USD); thức ăn giàu nặng lượng 13,38 triệu tấn (tương đương 3,4 tỷ USD); thức ăn bổ sung 780,7 nghìn tấn (tương đương 895,3 triệu USD); thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 27,0 nghìn tấn (tương đương 39,82 triệu USD); cỏ khô 57,9 nghìn tấn (tương đương 21,16 triệu USD). So sánh với cùng kỳ năm 2024, tăng 14,78 % về khối lượng (tương đương 2,97 triệu tấn), tăng 9,68 % về giá trị (tương đương 677,0 triệu USD). Một số nguyên liệu nhập khẩu chính: Ngô (bột, hạt) tăng 13,5 % về khối lượng, 18,0 % về giá trị; Khô dầu các loại tăng 23,0 % về khối lượng, tăng 7,4 % về giá trị; lúa mỳ tăng 1,0 % về khối lượng, tăng 5,9 % về giá trị; DDGS tăng 21,7 % về khối lượng, tăng 10,4 % về giá trị; Cám mỳ các loại tăng 15,3 % về khối lượng, tăng 5,5 % về giá trị; Đâu tương (bột, hạt) giảm 5,9 % về khối lượng, giảm 19,6 % về giá trị; thức ăn bổ sung tăng 17,2 % về khối lượng, tăng 6,1 % về giá trị. Ước tính cả năm 2025, tổng sản lượng nhập khẩu TACN khoảng 25,2 triệu tấn (giá trị kim ngạch nhập khẩu ước 8,3 tỷ USD).

Tổng hợp: Channuoivietnam.com

>> Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 11/2025

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *