Đẩy mạnh nghiên cứu chọn tạo giống chim cút sạch bệnh phục vụ phát triển chăn nuôi

(Người Chăn Nuôi) – Chiều 1/4, tại cuộc họp về kế hoạch khoa học công nghệ lĩnh vực chăn nuôi, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thống nhất lựa chọn một số đề tài trọng điểm cho giai đoạn tới, trong đó nghiên cứu chọn tạo giống chim cút sạch bệnh, chất lượng cao được đánh giá là hướng đi có nhiều tiềm năng, phù hợp với thực tiễn sản xuất và nhu cầu thị trường.

Theo đánh giá tại cuộc họp, chim cút đã được đưa vào Việt Nam từ cuối thập niên 1970, chủ yếu là giống có nguồn gốc từ Nhật Bản. Sau hơn 40 năm phát triển, vật nuôi này đã hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, đặc biệt tại khu vực phía Nam, với nhiều trang trại quy mô lớn, mỗi ngày cung ứng hàng trăm nghìn quả trứng ra thị trường.

chọn tạo giống chim cút sạch bệnh

Toàn cảnh phiên họp do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì. Ảnh: Bảo Thắng

Những năm gần đây, một số doanh nghiệp chăn nuôi đã đưa sản phẩm trứng cút chế biến thâm nhập thành công các thị trường khó tính như Nhật Bản và Hoa Kỳ. Kết quả này cho thấy tiềm năng mở rộng xuất khẩu của ngành hàng chim cút là rất lớn. Tuy nhiên, nền tảng con giống vẫn là điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ.

Thực tế cho thấy, tại nhiều cơ sở chăn nuôi, con giống chủ yếu được giữ lại qua nhiều thế hệ để tiết giảm chi phí. Cách làm này tuy thuận lợi trong ngắn hạn nhưng dẫn đến tình trạng thoái hóa giống, làm giảm độ đồng đều của đàn, năng suất không ổn định, kích cỡ trứng chênh lệch, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.

Trong điều kiện thị trường nội địa, những hạn chế này có thể chưa gây áp lực lớn. Tuy nhiên, khi tham gia chuỗi sản xuất hàng hóa quy mô lớn và đặc biệt là xuất khẩu, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dịch bệnh và chất lượng đồng đều trở thành tiêu chuẩn bắt buộc. Đây là lý do việc nghiên cứu chọn tạo giống chim cút sạch bệnh, có năng suất cao được xem là nhiệm vụ cần thiết trong giai đoạn tới.

Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, lãnh đạo Chính phủ và Bộ đã trực tiếp khảo sát thực tế và nhận thấy dư địa phát triển ngành hàng chim cút còn rất lớn. Theo Thứ trưởng, lợi thế đầu tiên nằm ở đặc điểm sinh học của chim cút với chu kỳ sản xuất ngắn, chỉ sau hơn một tháng nuôi đã có thể cho trứng, giúp người chăn nuôi nhanh chóng quay vòng vốn.

So với các vật nuôi truyền thống như gà hoặc vịt, chim cút có chi phí đầu tư chuồng trại và con giống thấp hơn, diện tích nuôi nhỏ hơn, phù hợp với cả hộ chăn nuôi nhỏ lẻ lẫn các mô hình nông nghiệp đô thị. Trong bối cảnh nhiều nông hộ gặp khó khăn do biến động giá lợn và gia cầm, chim cút được xem là lựa chọn linh hoạt, ít rủi ro hơn.

Ngoài ra, trứng cút có khả năng chế biến đa dạng như đóng hộp, tẩm gia vị, sản phẩm ăn liền, từ đó tạo ra giá trị gia tăng cao hơn so với tiêu thụ trứng tươi. Đây là yếu tố quan trọng giúp ngành hàng chim cút có thể phát triển theo hướng chế biến sâu, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Dư địa lớn hơn của ngành hàng này nằm ở xuất khẩu. Việc trứng cút chế biến đã thâm nhập được các thị trường có yêu cầu cao như Nhật Bản và Mỹ cho thấy sản phẩm hoàn toàn có khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. So với một số sản phẩm chăn nuôi khác, trứng cút chế biến có ưu thế về bảo quản và vận chuyển, thuận lợi cho xuất khẩu đường dài.

Trên cơ sở đó, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, nghiên cứu chuyên sâu về chim cút không chỉ giải quyết vấn đề năng suất và độ đồng đều mà còn giúp giảm công phân loại sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng đầu ra. Nếu quy mô được mở rộng và quy trình được chuẩn hóa, chim cút có thể trở thành một ngành hàng chăn nuôi chuyên biệt, thay vì chỉ là vật nuôi phụ như trước đây.

Đề tài nghiên cứu chim cút là một trong khoảng 20 nhiệm vụ khoa học công nghệ được lựa chọn cho giai đoạn tới. Từ bài học của ngành hàng này, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các đề tài nghiên cứu phải bám sát thực tiễn sản xuất, đảm bảo tính thời sự và đặc biệt phải tạo ra sản phẩm cụ thể, có khả năng ứng dụng ngay vào thực tế.

Bên cạnh đó, các đơn vị nghiên cứu cần rà soát đầy đủ tài liệu quốc tế, tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia có nền chăn nuôi phát triển để lựa chọn hướng đi phù hợp, tránh trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư khoa học công nghệ.

Theo Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), các định hướng nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi thời gian tới sẽ tập trung vào 6 nhóm chủ đề lớn, gồm chăn nuôi lợn, gia cầm, gia súc nhai lại, kỹ thuật chăn nuôi và nâng cao năng suất, phòng chống dịch bệnh, thuốc và vaccine, kháng kháng sinh và an toàn thực phẩm. Đây là những lĩnh vực đã được xác định tại Hội nghị Khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ nhất tổ chức ngày 28/3 vừa qua.

Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *