Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc và chất lượng thực phẩm, chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP đang được xem là hướng đi để nâng cao giá trị sản phẩm, kiểm soát dịch bệnh và phát triển chăn nuôi bền vững. Tuy nhiên, việc áp dụng vẫn gặp không ít trở ngại khi phần lớn chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ, chi phí đầu tư cao, yêu cầu kỹ thuật khắt khe, trong khi đầu ra cho sản phẩm an toàn chưa thực sự ổn định.
Trang trại chăn nuôi gà của gia đình anh Lý Văn Tuấn, xã Tây Đô (Thanh Hóa) có quy mô khoảng 10 nghìn con/lứa. Để kiểm soát dịch bệnh, anh đã đầu tư xây dựng chuồng nuôi kiên cố, thoáng mát, ánh sáng và độ ẩm được thiết kế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của gà cùng hệ thống máng ăn, uống tự động. Bên cạnh đó, chất lượng con giống được kiểm soát chặt chẽ, tiêm vắc-xin đầy đủ và được bổ sung các loại vitamin để nâng cao sức đề kháng. Nhất là, anh Tuấn luôn quan tâm đến việc bảo vệ môi trường bằng việc thực hiện chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học, trồng nhiều cây xanh… Nếu nhìn vào các tiêu chí trong chăn nuôi VietGAP, trang trại của anh Tuấn đã bảo đảm điều kiện chuồng trại, con giống, thức ăn. Tuy nhiên, chặng đường để xây dựng trang trại với quy mô lớn theo tiêu chuẩn VietGAP đối với anh vẫn còn nhiều khó khăn, anh Tuấn cho biết: “Với những tiêu chí về tiêu chuẩn VietGAP, trang trại của gia đình tôi chưa đủ diện tích để xây kho chứa thức ăn, khu xử lý chất thải… Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất, cần phải chuẩn bị nhiều giấy tờ về nguồn gốc con giống, thức ăn, kết quả phân tích nguồn nước…”.

Trang trại chăn nuôi gà theo tiêu chuẩn VietGAP xã Yên Phú.
Thực tế hiện nay, để đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn VietGAP, người chăn nuôi phải bỏ một số vốn đầu tư khá lớn để cải tạo hệ thống chuồng trại, khu vực cách ly, kho chứa thức ăn, hệ thống cấp nước, xử lý chất thải, các khoản chi thường xuyên như kiểm nghiệm, vệ sinh tiêu độc chuồng trại, xử lý chất thải và thực hiện các biện pháp phòng bệnh… Trong khi đó, phần lớn hộ chăn nuôi có quy mô chăn nuôi vừa và nhỏ, vốn đầu tư còn hạn chế.
Anh Cao Ngọc Tân, người chăn nuôi gà xã Yên Phú, cho biết: “Một trong những khó khăn lớn nhất đối với người chăn nuôi là đầu ra không ổn định, chưa có sự phân định rõ ràng về giá trị giữa sản phẩm chăn nuôi sản xuất theo phương thức truyền thống với sản phẩm theo tiêu chuẩn VietGAP nên không thể bán giá cao. Sản phẩm không được tiêu thụ với mức giá phù hợp nên động lực duy trì quy trình sản xuất của người chăn nuôi bị ảnh hưởng”. Ngoài ra, người chăn nuôi còn quen với phương thức sản xuất truyền thống, chưa hình thành thói quen ghi chép nhật ký chăn nuôi; nhưng đây lại là cơ sở để kiểm soát, đánh giá và truy xuất nguồn gốc khi sản phẩm đưa ra thị trường. Ngoài ra, còn nhiều lý do cản trở như thời tiết, dịch bệnh, thiên tai.
Từ những khó khăn trên, để gỡ khó cho người chăn nuôi khi áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, theo ông Lương Xuân Vũ, Chi cục Trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y: “Để chăn nuôi VietGAP phát triển bền vững, vấn đề quan trọng không chỉ là xây dựng mô hình và cấp chứng nhận mà phải giúp người dân duy trì được quy trình trong suốt quá trình sản xuất. Đây là xu thế tất yếu phát triển chăn nuôi để hạn chế dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất. Vì vậy, các đơn vị, địa phương cần tăng cường tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cho người chăn nuôi theo hướng dễ hiểu, sát với điều kiện thực tế với từng quy mô trang trại; nhất là tạo thói quen ghi chép nhật ký chăn nuôi, ứng dụng công nghệ số để giảm áp lực cho người dân… Quan trọng hơn, cần khuyến khích người dân tham gia HTX, tổ hợp tác, xây dựng liên kết với doanh nghiệp để hình thành chuỗi từ con giống, thức ăn, chăm sóc đến giết mổ, tiêu thụ; chất lượng sản phẩm được gắn với thị trường và giá bán. Khi sản phẩm VietGAP tạo ra giá trị cao hơn và có đầu ra ổn định, người chăn nuôi sẽ có thêm động lực đầu tư và duy trì quy trình. Người chăn nuôi phải chủ động kiểm soát chất lượng con giống, thức ăn, nước uống, tiêm phòng đầy đủ, vệ sinh chuồng trại, kiểm soát người và phương tiện ra vào, xử lý chất thải đúng quy định và ghi chép quá trình sản xuất… Từ đó, không chỉ tạo ra sản phẩm an toàn mà còn giảm được nhiều rủi ro trong quá trình chăn nuôi, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh luôn tiềm ẩn, an toàn sinh học cần được coi là “hàng rào” đầu tiên để bảo vệ sản xuất”.
Bài và ảnh: Lê Ngọc
Nguồn: Báo Thanh Hóa
