(Người Chăn Nuôi) – Ngành chăn nuôi gia cầm đang đối mặt với “sức ép kép” khi nguồn cung tiếp tục tăng mạnh gây dư cung cục bộ, trong khi giá thức ăn và thuốc thú y neo cao còn giá bán đầu ra lại bấp bênh. Để trụ vững, theo các chuyên gia, xu hướng tất yếu của thị trường sắp tới là phải hợp tác tạo thành chuỗi liên kết chặt chẽ “ba chân kiềng”: Giống – Thức ăn – Thuốc thú y, nhằm san sẻ chi phí, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh.
I. Sản lượng và thị trường giống gia cầm 7 tháng đầu năm 2026
1. Sản lượng đầu con
– Gà giống lông màu: Ước tính khoảng 264 – 279 triệu con. Phân khúc này chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 60 – 65% thị phần giống gà nội địa). Mặc dù, giá thịt thương phẩm biến động, các doanh nghiệp lớn và nông hộ vẫn duy trì sản xuất dòng gà ri, gà mía, gà lai chọi phục vụ các tháng cuối năm.
– Gà giống lông trắng: Ước tính khoảng 144 – 154 triệu con. Đây chủ yếu là các dòng gà công nghiệp hướng thịt (Cobb, Ross) do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nắm giữ thị phần chính. Nguồn cung giống 1 ngày tuổi tăng mạnh trong quý I (tăng từ 12 – 20% so với cùng kỳ năm trước) gây ra tình trạng dội chợ và giảm giá sâu vào quý II, khiến các trại giống phải giãn tiến độ ấp nở nhẹ vào tháng 6 và tháng 7.
– Gà đẻ trứng thương phẩm: Ước tính khoảng 36,5 – 40,2 triệu con, phân bố tập trung mạnh nhất tại miền Bắc và miền Nam nhờ hệ thống các trang trại quy mô công nghiệp lớn.
– Vịt giống (Vịt siêu thịt và hướng trứng): Ước tính khoảng 88 – 97 triệu con. Trong giai đoạn quý II, xu hướng người chăn nuôi dịch chuyển mạnh từ nuôi gà sang nuôi vịt thịt khiến lượng sản xuất vịt giống 1 ngày tuổi tăng dồi dào đột biến.
Bảng 1: Ước tính sản lượng con giống sản xuất 7 tháng đầu năm 2026
Đơn vị tính: Triệu con 1NT

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kiểm dịch; tính toán của VPA
Phân tích diễn biến theo quý 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy:
Quý I: Bùng nổ cơ học và chạy đua tái đàn đầu năm. Đây là giai đoạn sản lượng giữ nhịp tăng trưởng nóng. Ngoại trừ tháng 2 sụt giảm ngắn hạn do kỳ nghỉ Tết, lượng giống xuất chuồng của tháng 1 và tháng 3 đều chạm mốc cực đại. Nguyên nhân giá heo hơi neo ở mức cao kỷ lục kích thích các nông hộ và trang trại dịch chuyển dòng vốn sang nuôi gia cầm ngắn ngày để quay vòng vốn nhanh. Khối doanh nghiệp liên kết 3F vận hành tối đa công suất ấp nở nhằm cung ứng cho làn sóng thả nuôi phục vụ thị trường tiêu thụ mùa hè và mùa lễ hội đầu năm.
Quý II: Đỉnh điểm sản lượng và khủng hoảng dội chợ. Quý này ghi nhận tổng sản lượng con giống đạt đỉnh cao nhất năm (ước đạt 234,8 – 251 triệu con). Tuy nhiên, đây lại là giai đoạn suy thoái nặng nề nhất về giá trị. Do lượng con giống đổ ra thị trường quá lớn từ quý I và đầu quý II đã tạo nên một cuộc khủng hoảng dư cung thịt và trứng thương phẩm khốc liệt vào tháng 5 và tháng 6. Giá gà lông trắng chạm đáy dưới giá thành sâu (22.000 – 24.000 đồng/kg), giá trứng sập nguồn về mức 1.200 – 1.400 đồng/quả. Áp lực dội chợ nặng nề buộc các doanh nghiệp phải can thiệp cắt giảm cơ học, hủy bớt lịch ấp trứng vào cuối quý (tháng 6).
Quý III: Chủ động thắt chặt nguồn cung – thiết lập đáy sản lượng. Sản lượng toàn quốc đột ngột kéo giảm mạnh, giảm khoảng 20 – 24% so với quý II, đưa tổng lượng DOC xuống mức thấp nhất trong năm (178 – 191,5 triệu con). Sự sụt giảm này không mang tính mùa vụ mà là động thái điều tiết bắt buộc. Khối FDI và các công ty giống nội địa lớn đồng loạt giảm 15% – 20% lượng trứng đưa vào máy ấp, xả bớt trứng giống làm trứng lộn nhằm giảm tải áp lực cung thừa. Thêm vào đó, làn sóng tăng giá cám liên tiếp (đặc biệt là đợt tăng giá đầu tháng 8/2026) khiến tâm lý người nuôi e dè, kéo lùi tốc độ tấp đàn.

2. Thị trường giống gia cầm tháng 7 đầu năm 2026
Phân tích xu hướng thị trường giống 7 tháng đầu năm cho thấy:
– Giai đoạn quý I: Nhu cầu vào đàn nuôi thương phẩm sau Tết tăng cao đột biến. Giá con giống tất cả các loại đều chạm mốc đỉnh điểm của chu kỳ. Giống vịt siêu thịt giữ giá khá tốt.
– Giai đoạn quý II: Thị trường ghi nhận giá gia cầm thịt thương phẩm giảm sâu toàn quốc. Người chăn nuôi có xu hướng giãn tiến độ hoặc ngừng vào đàn mới, khiến giá con giống 1 ngày tuổi lao dốc, chạm đáy vào khoảng tháng 5 – 6.
– Giai đoạn đầu tháng 8 đến tháng 9: Giá gà lông trắng thịt bắt đầu có tín hiệu phục hồi nhẹ do khan hiếm nguồn cung. Các công ty lớn điều chỉnh tăng nhẹ giá giống gà hướng thịt để chuẩn bị cho lứa cuối năm. Thị trường vịt giống chững lại và giữ mức ổn định.
Giá bán con giống gia cầm 1 ngày tuổi (DOC) từ tháng 1 – 7/2026 biến động mạnh theo xu hướng cung – cầu, với mức giá trung bình của gà lông màu từ 11.000 – 15.000 đồng/con, gà lông trắng đạt 10.000 – 13.000 đồng/con, và vịt thịt giống đạt 12.000 – 18.000 đồng/con.
II. Dự báo sản xuất và thị trường giống 5 tháng cuối năm 2026
1. Dự báo 3 xu hướng tiêu thụ thịt thương phẩm cuối năm
– Nhu cầu tiêu thụ tăng vọt từ 20 – 25%: Giai đoạn cuối năm trùng với mùa cưới hỏi, lễ hội, tổng kết doanh nghiệp và đặc biệt là dịp Tết. Nhu cầu thịt gia cầm chế biến sẵn, gà cúng tế và vịt quay sẽ đạt đỉnh điểm.
– Sự lên ngôi của thịt gà lông màu nội địa: Khác với phân khúc công nghiệp, người tiêu dùng Việt Nam có xu hướng chọn mua gà thả vườn, gà lông màu có chất lượng thịt dai, ngon cho các dịp lễ Tết. Do đó, phân khúc này sẽ có sức mua đột biến.
– Áp lực cạnh tranh gay gắt từ thịt heo và thịt nhập khẩu: Giá heo hơi dự báo phục hồi sẽ kéo một phần nhu cầu tiêu dùng quay lại với thịt đỏ. Đồng thời, các chuỗi thức ăn nhanh vẫn ưu tiên sử dụng thịt gà lông trắng nhập khẩu giá rẻ, gây áp lực lên gà công nghiệp trong nước.
2. Tác động cụ thể đến kế hoạch sản xuất giống
Dựa trên quy luật tiêu thụ, kế hoạch sản xuất giống 5 tháng cuối năm 2026 (tháng 8 – 12) sẽ biến động rõ rệt theo từng mốc thời gian để kịp chu kỳ xuất chuồng.
* Mốc 1: Tháng 8 – Tháng 9 (Vào đàn chuẩn bị cho mùa cưới và Noel)
– Tác động đến sản xuất giống: Chu kỳ nuôi gà lông màu thả vườn kéo dài từ 3,5 – 4 tháng. Việc vào đàn giống trong tháng 8 và 9 là thời điểm vàng để kịp xuất chuồng vào dịp Noel và Tết Dương lịch.
– Biến động sản lượng: Sản lượng giống tổng thể tăng nhẹ từ 64 – 72 triệu con (tháng 8) lên 70 – 77 triệu con (tháng 9). Người nuôi bắt đầu tăng tốc độ vào đàn sau khi kết thúc tháng 7 Âm lịch.
*Mốc 2: Tháng 10 – 11 (Đỉnh điểm “chạy đua” đón Tết Nguyên Đán)
– Tác động đến sản xuất giống: Đây là giai đoạn bùng nổ lớn nhất năm của thị trường con giống. Tất cả các hộ chăn nuôi và trang trại lớn đều tập trung thả giống gà lông màu và gà lông trắng chu kỳ ngắn để kịp bán vào dịp Tết Nguyên Đán (cuối tháng 1 đầu tháng 2 /2027).
– Biến động sản lượng: Sản lượng giống gia cầm toàn ngành vọt lên mức cao nhất năm, đạt 79 – 80 triệu con (Tháng 10 – 11). Giá con giống trong giai đoạn này dự báo sẽ bị đẩy lên cao do tình trạng khan hiếm nguồn cung cục bộ tại các lò ấp.
– Đối với vịt thịt: Do chu kỳ nuôi ngắn (chỉ từ 45 – 50 ngày), lượng vịt giống vào đàn sẽ duy trì ở mức cao ổn định (13 – 15 triệu con/tháng) xuyên suốt đến tận giữa tháng 11.
* Mốc 3: Tháng 12 (Ngắt tiến độ, giảm đàn rõ rệt)
– Tác động đến sản xuất giống: Bước sang tháng 12, nếu tiếp tục vào đàn gà thịt thì thời điểm xuất chuồng sẽ rơi vào tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau (giai đoạn thấp điểm tiêu thụ sau Tết, giá hạ).
– Biến động sản lượng: Toàn ngành chủ động phanh gấp, sản lượng giống sụt giảm mạnh xuống mức thấp nhất trong chu kỳ cuối năm, chỉ còn 60 – 67 triệu con (giảm gần 20 – 25% so với tháng 10 – 11).
Bảng 2: Số liệu dự báo sản lượng con giống 5 tháng cuối năm 2026
Đơn vị tính: Triệu con (DOC 1 ngày tuổi)

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kiểm dịch; tính toán của VPA
Bảng 3: Tổng hợp sản lượng giống gia cầm ước tính cả năm 2026
Đơn vị tính: Triệu con (1 ngày tuổi)

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu kiểm dịch; tính toán của VPA
Năm 2026 là một năm bản lề sàng lọc khốc liệt của thị trường con giống gia cầm Việt Nam. Thị trường dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại công nghiệp chuỗi khép kín. Việc sản lượng tăng quá nhanh trong năm 2026 chính là lý do vì sao ngành chăn nuôi phải xây dựng một kế hoạch thận trọng, siết chặt nguồn cung hoặc đặt mục tiêu tăng trưởng vừa phải (3 – 3,5%) cho năm 2027 để tái thiết lập thế cân bằng kinh tế.
Hiệp hội Gia cầm Việt Nam (VPA)
