(Người Chăn Nuôi) – Truy xuất nguồn gốc trong chăn nuôi không thể chỉ dừng ở việc dán tem hoặc tạo mã QR, mà phải dựa trên dữ liệu được hình thành xuyên suốt quá trình sản xuất, từ con giống, thức ăn, thú y, phòng chống dịch bệnh đến giết mổ, chế biến, phân phối và tiêu thụ. Đây là nội dung được nhấn mạnh tại Tọa đàm Khuyến nông với chủ đề “Giải pháp phát triển chăn nuôi gắn với truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ sản phẩm”, tổ chức tại thành phố Hải Phòng ngày 14/8.
Tọa đàm do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng tổ chức, với sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, hệ thống khuyến nông và nông dân các địa phương Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh.
Chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị
Phát biểu khai mạc, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng, yêu cầu đối với ngành chăn nuôi hiện nay không chỉ là sản xuất nhiều mà quan trọng hơn là tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị cho người chăn nuôi.
Theo ông Thanh, người tiêu dùng, doanh nghiệp chế biến và hệ thống phân phối ngày càng quan tâm đến nguồn gốc sản phẩm, quy trình sản xuất, việc sử dụng con giống, thức ăn, thuốc thú y cũng như các biện pháp bảo đảm an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm. Do đó, truy xuất nguồn gốc phải trở thành một phần của quy trình sản xuất thay vì chỉ là khâu bổ sung ở cuối chuỗi.

Tọa đàm có sự tham dự của nhiều nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người chăn nuôi.
Thực tế từ các mô hình khuyến nông cho thấy, khi quy trình sản xuất được kiểm soát và liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ, hiệu quả kinh tế được cải thiện. Một số mô hình chăn nuôi lợn VietGAHP gắn với doanh nghiệp, giết mổ, chế biến và xây dựng thương hiệu có giá bán cao hơn khoảng 5 – 10% so với sản phẩm thông thường. Trong khi đó, các mô hình chăn nuôi bò VietGAHP kết hợp xử lý chất thải, phát triển vùng nguyên liệu và liên kết chuỗi giúp hiệu quả kinh tế tăng khoảng 19,7 – 23,5% so với chăn nuôi thông thường.
Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh, để truy xuất có giá trị thực chất, dữ liệu phải được hình thành và kiểm soát ngay trong quá trình sản xuất. Các thông tin về con giống, thức ăn, chăm sóc, thú y, tiêm phòng, phòng chống dịch bệnh và quá trình chăn nuôi cần được ghi chép đầy đủ, làm cơ sở kết nối với các khâu giết mổ, chế biến, phân phối.
Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc phải đi cùng thị trường. Nếu người chăn nuôi phải phát sinh thêm chi phí cho chứng nhận, ghi chép và truy xuất nhưng sản phẩm không có đầu ra ổn định hoặc không được thị trường trả giá cao hơn, việc duy trì chuỗi liên kết sẽ khó bền vững.
Liên kết để truy xuất có “đầu ra”
Tại Hải Phòng, chăn nuôi đang có quy mô tương đối lớn và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Theo ông Vũ Bá Công, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng, trong 7 tháng năm 2026, đàn lợn của thành phố đạt 531 nghìn con, tăng 2,6%; đàn gia cầm 24,6 triệu con, tăng 1,5%; sản lượng thịt hơi khoảng 156.700 tấn, tăng 3%.
Năm 2025, giá trị sản xuất chăn nuôi của Hải Phòng đạt trên 13.047 tỷ đồng, chiếm trên 32% giá trị sản xuất nông nghiệp. Tổng đàn lợn trên 610 nghìn con, gia cầm trên 26,1 triệu con. Thành phố có 1.042 trang trại chăn nuôi, trong đó chăn nuôi trang trại chiếm trên 51% tổng đàn.
Cùng với phát triển quy mô, Hải Phòng đã hình thành 18 vùng chăn nuôi tập trung, khoảng 200 trang trại hoạt động hiệu quả, 100 cơ sở được chứng nhận an toàn dịch bệnh và 88 sản phẩm chăn nuôi được chứng nhận OCOP. Một số cơ sở đã áp dụng VietGAHP và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR.
Thành phố cũng định hướng quy hoạch 50 khu, vùng chăn nuôi tập trung gắn với giết mổ công nghệ cao đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050. Đây được xem là hướng đi nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời tăng khả năng kiểm soát an toàn thực phẩm và dịch bệnh trong chuỗi.
Theo ông Vũ Bá Công, sau hợp nhất, Hải Phòng có diện tích tự nhiên 3.194,72 km², dân số 4.664.124 người, tạo không gian phát triển mới với sự kết nối giữa đô thị, công nghiệp, cảng biển, dịch vụ, logistics với khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đây là điều kiện thuận lợi để thành phố phát triển nông nghiệp hàng hóa, gắn sản xuất với chế biến, thị trường và từng bước hướng tới xuất khẩu.
Tuy nhiên, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cho rằng, quy mô sản xuất mới chỉ là điều kiện cần. Vấn đề quan trọng là phải nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người chăn nuôi, chuyển từ tư duy tăng đàn, tăng sản lượng sang chú trọng chất lượng, an toàn, truy xuất nguồn gốc, chế biến và tổ chức thị trường.
Trong quá trình này, các chuỗi liên kết được xác định là yếu tố then chốt. Hải Phòng hiện có 701 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó có 32 hợp tác xã chăn nuôi. Đây là lực lượng có vai trò tập hợp các hộ chăn nuôi, thống nhất quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và kết nối với doanh nghiệp.
Từ các ý kiến tại tọa đàm, một trong những yêu cầu đặt ra là tiếp tục tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, kiểm soát tốt an toàn dịch bệnh, nâng chất lượng sản phẩm và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp. Khi sản phẩm được kiểm soát từ đầu vào đến đầu ra, truy xuất nguồn gốc mới thực sự trở thành công cụ nâng cao giá trị thay vì chỉ là yêu cầu về hình thức.
Các đại biểu cũng tập trung trao đổi về những khó khăn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc, tiêu thụ sản phẩm và sự phù hợp giữa quy trình sản xuất với nhu cầu thị trường. Qua đó, nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng các chuỗi liên kết đủ mạnh, trong đó doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình tổ chức sản xuất và tiêu thụ.
Ông Lê Minh Lịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho biết, Trung tâm sẽ tiếp thu, tổng hợp các ý kiến, kiến nghị, đề xuất tại tọa đàm để báo cáo, tham mưu phục vụ công tác chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan chuyên ngành. Đồng thời, Trung tâm sẽ phối hợp với địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và các đơn vị liên quan thúc đẩy triển khai những giải pháp phù hợp với thực tiễn.
Minh Khuê
