Tinh hoa "con đường tơ lụa”

28/08/2015 | 05:10

(Người Chăn Nuôi) - Xuất hiện từ thời Hùng Vương, nghề trồng dâu nuôi tằm đã được lưu truyền qua bao thế hệ. Đây cũng là công việc gắn với nền kinh tế canh nông của ngành nông nghiệp từ xưa đến nay. Từ công việc này, vải lụa tơ tằm ra đời, trở thành một trong những sản vật mang linh hồn người Việt.

Nghề nuôi tằm lấy tơ đã bắt đầu ít nhất là 5.000 năm từ Trung Quốc và được truyền bá dần sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và phương Tây. Tại Việt Nam, nghề trồng dâu nuôi tằm được biết đến với biết bao vất vả, nhọc nhằn. Nguyên phi Ỷ Lan trước khi được vua Lý Thánh Tông sủng ái và nhân dân tôn vinh đã là một cô thôn nữ trên cánh đồng dâu của vùng đất trung du màu mỡ Bắc Ninh. Sau khi trở thành Hiếu Chiêu hoàng hậu, bà đã khuyến khích nông dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa lúc bấy giờ chú trọng nghề nuôi tằm dệt lụa. Có lẽ vì vậy mà nghề tằm tang canh cửi xứ Đàng trong được mở mang và lan truyền khắp nơi trong nhân gian. Nằm kề bên con sông Đáy, các xã Đại Hưng, Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức… với những ngôi làng cổ từ lâu đã nổi tiếng với nghề trồng dâu, nuôi tằm, được mệnh danh là "thủ đô dâu tằm" một thời. Mỗi khi nhắc đến vùng Kinh Bắc là người ta nghĩ ngay đến hình ảnh cô gái hái dâu nuôi tằm, hát "người ơi người ở" đêm giã bạn.

Em là con gái Bắc Ninh,

Hái dâu nong kén ươm tình thơ ngây.

Mối duyên kỳ ngộ Ỷ Lan

Bắc Ninh vắng bóng cô nàng hái dâu

Từ những quả trứng bé li ti, những chú tằm con được nở ra bé xíu như những con kiến nên người ta gọi là "tằm kiến". Qua hơn hai mươi ngày mải mê ăn dâu, những chú tằm kiến ấy đã trưởng thành những con tằm ăn rỗi, lớn gấp vạn lần những chú tằm kiến ban đầu. Đó là quãng thời gian tằm tích lũy lá dâu để tạo nên những sợi tơ mịn màng.

Trong văn thơ, hình ảnh con tằm và những nương dâu xanh ngắt đã được gắn bó chặt chẽ với cuộc đời người phụ nữ. Đó là một người em gái chịu khó cần cù:

Hoa đỗ ván nở mùa xuân

Lứa dâu tháng tháng, lứa cần năm năm.

Em tôi là gái mười lăm

Quét sân chạy chợ chăn tằm sớm trưa

(Nguyễn Bính)

 

Với lời dặn dò thủ thỉ:

Em ơi, em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương

Hình ảnh cô thôn nữ trong bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính:

Nào đâu cái yếm lụa sồi

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân

Nào đâu cái áo tứ thân

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen

Tùy theo chất lượng tơ, cách xử lý sợi tơ và cách xoắn sợi tơ, người ta sẽ có được những loại tơ với tên gọi và chất lượng khác nhau. Với bàn tay tinh tế và sự sáng tạo không ngừng của người Việt, các sản phẩm dệt ra từ tơ tằm rất phong phú, đa dạng như: lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, băng, sa, xuyến, đoạn, nhiễu, đũi, cấp, kỳ cầu … Từ các sợi tơ ở trên, tùy theo cách dệt người ta có được những loại tơ lụa khác nhau.

Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già

Kiểu dệt cổ truyền là phối hợp, pha trộn các loại sợi dọc và ngang để tạo ra những mặt hàng khác nhau. Người thợ khi dệt phải dùng tay đưa, chân dận cùng lúc. Theo phương pháp thủ công, lụa mộc sẽ được ngâm trong nước trà, nước trầu không, nhựa cây… rồi xả, nhuộm màu, phơi khô, nhuộm lại lần thứ hai để ra đúng màu sắc như ý muốn. Những vuông lụa mới dệt xong gọi là lụa mộc, chỉ có màu trắng ngà hay vàng mỡ gà của tơ, được đem nhuộm sau. Theo phương pháp thủ công, lụa mộc sẽ được ngâm trong nước trà, nước trầu không, nhựa cây… rồi xả, nhuộm màu, phơi khô, nhuộm lại lần thứ hai để ra đúng màu sắc như ý muốn. Với bàn tay tinh tế và sự sáng tạo không ngừng của người dân Việt Nam, các sản phẩm dệt ra từ tơ tằm rất phong phú, đa dạng như: Lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, băng, sa, xuyến, đoạn, nhiễu, đũi, cấp, kỳ cầu …

Ngày nay, nghề sản xuất tơ lụa không còn nhiều, trên cả nước còn giữ được một số làng nghề truyền thống như Vạn Phúc (Hà Nội), Hội An (Quảng Nam), Nha Xá (Hà Nam)... Làng lụa Vạn Phúc từ lâu đã rất nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống.

Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh chiếc giếng làng với những bông hoa sen, cạnh cây đa cổ thụ, buổi chiều vẫn họp chợ trước đình. Nhờ lụa, làng Vạn Phúc giờ khang trang, đẹp như thành phố. Làng nghề Vạn Phúc đã có gần 1.000 năm tuổi. Theo lưu truyền, vào giữa Thế kỷ IX, bà Ả Lã Đê Nương (niên hiệu sắc phong Nga Hoàng Đệ nhị Vương phi) đi du ngoạn qua đất Vạn Bảo, thấy nơi đây sông núi uốn khúc, nhân dân thuần hậu, bà bèn ở lại dạy dân chúng cấy cày, trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa. Sau khi bà mất, dân làng đã tôn bà là thành hoàng làng. Ban đầu lụa Vạn Phúc sản xuất chỉ để phục tầng lớp trung lưu các thời đại phong kiến. Đến cuối thế kỷ IXX, nhà Nguyễn khuyến khích dùng hàng nội, các nghệ nhân làng Vạn Phúc nhanh chóng sưu tầm, học hỏi, cải tiến đế "bình dân hóa" các mặt hàng gấm, vóc. Những năm 1931, 1936, thợ dệt Vạn Phúc hai lần vinh dự mang sản phẩm sang tham gia ở Marseille và Paris (Pháp). Ngay từ thời điểm đó, lụa Vạn Phúc đã được đánh giá cao trên thế giới. Từ đó đến nay, gần 1.000 năm lụa Vạn Phúc tiếp tục nổi tiếng với những mặt hàng chính, đặc biệt là lụa hàng vân. Cùng với mặt hàng lụa vân, Vạn Phúc còn nổi tiếng với satin sang trọng. Dân gian vẫn thường kháo nhau "Dùng lụa Vạn Phúc người già trẻ lại, người xấu đẹp lên"… Là người con Việt, nếu chưa một lần sở hữu những tấm vải lụa Vạn Phúc thì quả là điều đáng tiếc.

>> Sản phẩm từ tơ tằm có ưu điểm nhẹ, thoáng, không tích điện, hút ẩm vào mùa đông nhưng lại rất thoáng mát vào mùa hè… Ngày nay, nghề trồng dâu nuôi tằm vẫn khi lên bổng khi xuống trầm, nhưng hình ảnh con tằm vẫn mãi khắc sâu trong lòng người lao động.

Hương Ly

Gửi bình luận

Gửi Làm lại