Khô dầu cải, nguồn protein thay thế khô dầu đậu tương

27/05/2019 | 06:59

(Người Chăn Nuôi) - Nhìn chung, khô dầu hạt cải được xem là một nguyên liệu tốt để thay thế một phần khô dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn.

Nguồn nguyên liệu tốt

Cây cải dầu (Brassica napus và Brassica campestris) là loại cây trồng có năng suất cao, đứng thứ 3 sau đậu nành và cọ. Nó được trồng ở các nước có khí hậu lạnh, những nơi không phù hợp lắm với cây đậu nành. Các vùng sản xuất chính bao gồm các nước Canada, châu Âu (EU), Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Australia với năng suất toàn thế giới khoảng 40 triệu tấn.

Vài năm gần đây, diện tích canh tác cây cải dầu đã tăng lên đáng kể ở các nước châu Âu (EU), Canada..., nơi mà những nguồn năng lượng có thể tái chế được đang trở nên quan trọng đối với lợi ích của quốc gia. Dầu hạt cải đã được chứng minh là một trong những nguồn dầu diesel sinh học tốt nhất và sản lượng khô dầu hạt cải ngày càng tăng đã thu hút sự quan tâm của các chuyên gia dinh dưỡng và nhà sản xuất.

Nhìn chung, khô dầu hạt cải được xem là một nguyên liệu tốt để thay thế một phần khô dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn. Giá trị dinh dưỡng của khô dầu cải thấp hơn so với khô dầu đậu tương là do chúng có chứa một lượng chất kháng dinh dưỡng glucosinolates nhất định. Có rất nhiều loại Glucosinolate nhưng phổ biến là 9 chất Progoitrin, Hydroxyglucobrassicin, Gluconapin, Glucoalyssin, Sinigrin, Glucobrassicinapin, Glucobrassicin, Gluconapoliferin, Neoglucobrassicin; trong đó 4 chất có hàm lượng nhiều nhất theo thứ tự là Progoitrin, Hydroxyglucobrassicin, Gluconapin, Glucoalyssin. Glucosinolates vừa là độc chất vừa có vị đắng. Glucosinolates này ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến giáp, làm tuyến giáp phình to (bướu cổ), giảm sản xuất hormone tuyến giáp. Glucosinolates có thể gây một số hội chứng khác liên quan đến tiêu hóa như: Hội chứng gan xuất huyết ở gia cầm, giảm lượng thức ăn ăn vào do có vị đắng. Hàm lượng Glucosinolate tổng số của khô dầu cải dao động 50 - 120 µmol/g. Nhiều năm gần đây, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và cho ra giống cải có hàm lượng glucosinolates thấp 20 - 50 µmol/g hoặc rất thấp như khô dầu cải Canola ở Canada bằng  0 - 5 µmol/g.

 

Kết quả khả quan

Khô dầu cải trong ngành công nghiệp chăn nuôi bò sữa: Các nghiên cứu của rất nhiều tác giả như Brito and Broderick, 2007; Broderick et al., 2012; Faciola and Broderick, 2013; Paula et al., 2015; Galindo et al., 2017; Paula et al., 2018; Moore and Kalscheur, 2016 đều cho kết quả là việc thay thế khô dầu đậu tương bằng khô dầu cải trong khẩu phần ăn của bò sữa đã làm tăng năng suất sữa 0,5 - 2 kg cho mỗi bò trong ngày. Cơ sở khoa học của kết quả này là do khô dầu cải có tỷ lệ protein thoát qua cao (43%) hơn so với khô dầu đỗ tương (34%) nên sự mất mát protein ở dạ cỏ thấp hơn so với khô dầu đỗ tương.

Khô dầu cải trong ngành công nghiệp chăn nuôi heo thịt. Các nghiên cứu hiện tại ở nước ngoài cho thấy, heo từ giai đoạn heo choai đến heo thịt sẽ đạt kết quả tốt trong khẩu phần ăn chứa 20% khô dầu canola. Khi được tính toán cân bằng dinh dưỡng, khẩu phần ăn cho động vật có chứa khô dầu canola sẽ hỗ trợ hiệu quả cao về hiệu suất tăng trưởng. Bảng 3 trình bày kết quả nghiên cứu của Lã Văn Kính và ctv 2017 khi thay thế khô dầu đậu tương bằng khô dầu cải Canola cho heo thịt. Kết luận của nghiên cứu này là có thể sử dụng đến 20% khô dầu cải Canola trong khẩu phần ăn của heo thịt choai (khối lượng cơ thể 25 - 60 kg) và 17,5% cho heo thịt giai đoạn vỗ béo (khối lượng cơ thể 60 - 100 kg) có ảnh hưởng tốt đến tăng trọng, khả năng thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của heo thịt. Không nên sử dụng mức cao đến 30% khô dầu cải Canola trong khẩu phần ăn của heo thịt choai (khối lượng cơ thể 25 - 60 kg) và 25% cho heo thịt giai đoạn vỗ béo (khối lượng cơ thể 60 - 100 kg) vì sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trọng, khả năng thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của heo thịt.

Theo tính toán của Lã Văn Kính 2017, giá trị dinh dưỡng tương đối của khô dầu cải Canola so với khô dầu đậu tương là 89% về năng lượng trao đổi, 82% protein thô, 62% Lysine tiêu hóa hồi tràng, 123% Methionine+ Cystine tiêu hóa hồi tràng và 78% Threonine tiêu hóa hồi tràng. Mặt khác, khi so sánh khô dầu cải Canola của Canada với khô dầu cải từ các nguồn khác thì giá trị dinh dưỡng tương đối của khô dầu cải Canola là 113% về năng lượng trao đổi, 100% protein thô, 115% Lysine tiêu hóa hồi tràng, 116% Methionine + Cystine tiêu hóa hồi tràng và 114% Threonine tiêu hóa hồi tràng.

Khô dầu cải trong ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm: Matt A. Oryschak and Eduardo Beltranena, 2015 nghiên cứu sử dụng với 4 mức là 0%; 10%; 20% và 30% khô dầu cải trong khẩu phần ăn gà thịt và thấy rằng, việc sử dụng đến 20% khô dầu cải trong khẩu phần vẫn đảm bảo được tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn tốt.

GS. TS. Lã Văn Kính

Phân viện Chăn nuôi Nam bộ, Viện Chăn nuôi

Gửi bình luận

Gửi Làm lại