Hợp tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ

25/06/2018 | 03:25

(Người Chăn Nuôi) - Mới đây, đoàn công tác của Viện Chăn nuôi đã đến thăm và làm việc các mô hình chăn nuôi có hiệu quả, thống nhất các thỏa thuận hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với nước bạn tại new zealand.

Mô hình chăn nuôi dê sữa (DGC)

HTX Chăn nuôi Dê sữa Dairy Goat Co-operative Head Office là mô hình hoàn toàn tự nguyện do những người chăn nuôi dê sữa tại tỉnh Waikato thành lập. HTX có 71 trang trại chăn nuôi dê sữa, với tổng số vốn trên 400 triệu đô la New Zealand.

Giống dê của HTX chủ yếu là dê Sanen, có năng suất sữa khoảng 1,5 - 2 kg/con/ngày (ở lứa 1) và 3,5 - 8 kg/con/ngày (lứa 2 trở đi). Mỗi dê cái sử dụng từ 7 - 8 năm. Với giá sữa trung bình từ 0,85 - 0,9 đô la New Zealand mà HTX thu mua, các xã viên đều có lãi. Các trang trại trong HTX đều đầu tư hệ thống máy vắt sữa dê với công suất 100 dê/lần vắt.

Điểm mới ở HTX chăn nuôi dê sữa này là phương thức nuôi. Thay vì nuôi nhốt mỗi con một ô diện tích 1,5 × 1,5 m trên các chuồng sàn cao 0,8 - 1 m như trong các cơ sở nuôi dê sữa ở nước ta. Tại đây, dê cái vắt sữa được nuôi tập trung trong các chuồng lớn, khoảng 100 - 200 con/chuồng với nền đất độn mùn cưa hoặc trấu, tương tự như nuôi bò sữa, bò thịt (hình 1).    


Hình 1: Phương thức nuôi nhốt trên nền đệm mùn cưa tại DGC

 

Ưu điểm nổi bật của phương thức nuôi này là tiết kiệm diện tích, nhân công chăm sóc, nuôi dưỡng, tiết kiệm công cắt móng, vệ sinh cho dàn dê cái. Dê đực được thả cùng đàn nên thụ tinh trực tiếp và tự nhiên, nên tỷ lệ thụ thai cao.


Hình 2: Trao đổi về thức ăn và phương thức cho dê sữa ăn hằng ngày
 

Thức ăn chủ yếu là cỏ tươi mà DGC thu mua từ các trang trại trồng cỏ tại địa phương, như cỏ, cỏ ba lá, cỏ linh lăng, cỏ khô, cỏ ủ chua hoặc đồng cỏ. Mỗi ngày 2 lần, dê tại các chuồng được cho ăn bằng các máy tự động phân phối thức ăn tự động (hình 2). Trong quá trình lên máy vắt sữa, dê sữa cũng được bổ sung một lượng thức ăn tinh được tính toán tự động trên máy tính tùy theo năng suất sữa của từng con. DGC chỉ sử dụng nguồn thức ăn bổ sung có nguồn gốc từ New Zealand hoặc Australia đảm bảo chất lượng cao và an toàn. Đây là một phương thức nuôi mới, hiệu quả cao và chưa có trong chăn nuôi dê sữa ở Việt Nam, nước ta có thể học tập và áp dụng.

 

Mô hình chăn nuôi bò sữa

Đó là trại bò sữa tại tỉnh Waikato. Đây là một trại bò sữa tư nhân với tổng số 1.000 bò sữa được chăn thả hoàn toàn tự nhiên trên diện tích cỏ 320 ha. Giống bò ở đây chủ yếu là bò lai F1 giữa bò địa phương Kiwi với bò chuyên sữa Jersey. Năng suất sữa trung bình khoảng 15 - 24 lít sữa/ngày. Sữa được mua hàng ngày do các công ty chế biến sữa đến tận trại thu mua, giá sữa tại trại từ 0,6 - 0,65 đô la New Zealand/kg phụ thuộc vào tỷ lệ mỡ và protein trong sữa.

Khi lấy sữa, mọi công việc không cần chủ trang trại phải có mặt hay người nào kiểm soát vì trên xe có hệ thống tự động luôn báo số lượng sữa về trung tâm nhà máy. Mỗi ngày 2 lần, hàng chục chiếc xe bồn lạnh chở khoảng 30 tấn sữa/xe đi vào trang trại. Người lái xe chỉ xuống xe, lấy mẫu sữa cho vào ống thủy tinh nhỏ, cắm vòi hút vào cửa tanh lạnh và hút sữa. Ngay sau khi hết sữa, máy in tự động in số lượng sữa đã hút, người lái xe bỏ phiếu này vào hộp cho chủ trang trại và lái xe đi.

Đàn bò được chăn thả luân phiên trên các lô đồng cỏ, mùa đông bò được bổ sung thêm thức ăn ủ chua (hình 3). Với hệ thống chăn thả luân phiên này, các chủ trang trại đã tính toán sao cho khi bò ăn đến lô cuối cùng thì cỏ tại lô thứ nhất đã đủ độ lớn và đủ chất dinh dưỡng để đàn bò quay lại ăn.


Hình 3: Trao đổi kinh nghiệm về kỹ thuật chăn nuôi bò sữa
 

Tuy năng suất sữa không cao nhưng trang trại tiết kiệm được nhiều chi phí do do chăn thả tự nhiên như trên, chi phí công lao động thấp (cả trại 1.000 bò sữa chỉ có 3 công nhân), do đó các trang trại chăn nuôi bò sữa đề có lãi và sản xuất sữa sạch, hữu cơ.

Đặc biệt tại đây, vấn đề môi trường và khí hậu cũng là điều được quan tâm. Điển hình là hệ thống chuồng HerdHomes. Hệ thống này được sáng chế và đăng ký bản quyền tại New Zealand. Ưu điểm của HerdHomes là hệ thống xử lý chất thải. Ngay dưới nền chuồng gia súc, người ta đào 2 bể chứa phân bò với độ dài bằng độ dài chuồng nuôi; rộng 1,5 - 2 m; sâu khoảng 1,2 - 1,5 m, làm nơi chứa phân bò. Sau đó, họ lắp ghép những tấm cao su lớn có nhiều lỗ dài lên trên làm thành mặt sàn chuồng. Mùa đông có thể phủ thêm rơm lên mặt sàn để giữ ấm cho bò. Chất thải của bò sẽ chảy qua những khe hở trên tấm cao su xuống dưới hầm thải. Mỗi hầm chứa chất thải sẽ được dọn khoảng 2 lần/năm. Khi đó, người ta chỉ việc dỡ các tấm cao su ghép phía trên ra, dùng máy hút toàn bộ chất thải chở tới cánh đồng ngô rộng hơn 140 ha. Số phân đó có thể bón đủ cho 60% cánh đồng ngô. Đó là một quy trình khép kín, không mất nhiều chi phí và chất thải luôn được sử dụng một cách hiệu quả nhất.

Hệ thống chuồng HerdHomes đã ngăn được 10 triệu lít nước mưa không chảy vào hệ thống xử lý chất thải của bò và ngấm xuống lòng đất, làm ô nhiễm mạch nước ngầm. Nước mưa trên các mái chuồng được hứng và chứa trong các bể đầu chuồng và làm nước rửa sàn. Nhờ đó, các trang trại đã tiết kiệm được khoảng 50.000 đô la New Zealand (khoảng 750 triệu đồng Việt Nam) mỗi năm chi phí làm sạch sàn chuồng trại.

 

Xử lý chất thải trong chăn nuôi, giết mổ gia súc

Viện Nghiên cứu Quốc gia về Nước và Khí quyển (NIWA) là một Trung tâm nghiên cứu và tư vấn hàng đầu của Chính phủ New Zealand, là đơn vị đứng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về nước và khí quyển.

Trong 20 năm trở lại đây, NIWA tập trung vào nghiên cứu về khí quyển, biển và nước ngọt từ đại dương sâu đến bầu khí quyển ở New Zealand, Thái Bình Dương, Nam Đại Dương và Nam cực. Nghiên cứu của NIWA mở rộng các lĩnh vực khác nhau, gồm: Nuôi trồng thủy sản; Đa dạng sinh học thủy sinh; An toàn sinh học thủy sinh; Khoa học khí quyển; Biến đổi khí hậu; Sinh thái ven biển; Năng lượng tái tạo; Thủy sản; Thủy văn học; Địa chất biển; Các mối nguy hiểm tự nhiên (ví dụ như sóng thần, bão dâng, lũ lụt, động đất, núi lửa); Hải dương học và Trầm tích học.

 


Hình 4: Làm việc tại NIWA
 

Trong thời gian công tác, đoàn các nhà khoa học thuộc Viện Chăn nuôi đã tham quan học tập nhằm xúc tiến chương trình hợp tác với NIWA về “Xử lý nước thải chăn nuôi” giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ New Zealand. Trong đó, dự án “Hệ thống ao cải tiến để xử lý nước thải và phục hồi tài nguyên - Enhanced Pond Systems for Wastewater treatment and Resource Recovery” do TS. Jason Park - chuyên viên NIWA làm chủ nhiệm là một điển hình.

Đây là một dự án tầm cỡ quốc gia, đã áp dụng công nghệ dòng chảy ngầm và hệ thủy sinh tảo nước ngọt New Zealand để xử lý triệt để nước thải sau biogas đạt Tiêu chuẩn chất lượng nước sạch của New Zealand (hình 5).                             

Hình 5: Công nghệ dòng chảy ngầm và hệ thủy sinh tảo nước ngọt New Zealand.
Hình 5: Công nghệ dòng chảy ngầm và hệ thủy sinh tảo nước ngọt New Zealand.
 

Hiện nay công nghệ này đã được ứng dụng khá rộng rãi tại các trang trại chăn nuôi bò sữa, bò thịt tập trung và một số cơ sở giết mổ, chế biến sữa, chế biến thủy hải sản lớn ở New Zealand và có thể áp dụng trong điều kiện ở Việt Nam. Đặc biệt tảo nước ngọt New Zealand còn có thể sử dụng làm thức ăn xanh giàu đạm cho gia súc, gia cầm.

Viện Chăn nuôi mong muốn phát huy hơn nữa hiệu quả hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ mới giữa Việt Nam và New Zealand.

 

TS. Nguyễn Thanh Sơn, TS. Phạm Sỹ Tiệp

(Viện Chăn nuôi)

Gửi bình luận

Gửi Làm lại