Dinh dưỡng là tuyến đầu của sự phòng thủ

11/03/2019 | 02:53

(Người Chăn Nuôi) - Kháng sinh là thành phần quan trọng trong quản lý vật nuôi, tuy nhiên sự thận trọng phải được thực hiện để giữ gìn tính hiệu quả của phương tiện này. Các giải pháp dinh dưỡng hiệu quả có thể được kết hợp để giảm thấp sự phụ thuộc vào sử dụng kháng sinh ở trại chăn nuôi.

Bài tóm tắt lược dịch trong Tạp chí AllaboutFeed với tiêu đề “Nutrition the first line of defence” do Mark Martinez biên soạn, viết về cách sử dụng các sản phẩm tinh chế lên men carbohydrate tự nhiên khó tiêu thành những chất khả dụng sinh học. Những chất tinh chế khả dụng sinh học này được coi như các prebiotic làm thức ăn cho lợi khuẩn ruột. Trong dinh dưỡng các loài vật nuôi, các chất tinh chế khả dụng sinh học này cũng được xem như tuyến đầu phòng thủ kháng lại yếu tố gây bệnh do những đặc tính ngăn chặn sự bám dính của mầm bệnh, cải thiện miễn dịch và sức khỏe vật nuôi trong đó có gia cầm.

Hình 1: Ảnh hưởng của RFC trên những bê bị nhiễm crypto

 

Carbohydrate tinh chế hữu dụng

Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm tòi nhiều giải pháp dinh dưỡng tinh chế cho người chăn nuôi để tác động tích cực đến sức khỏe và đời sống vật nuôi, giảm sử dụng kháng sinh trong trại. Các carbohydrate tinh chế hữu dụng (refined functional carbohydrates, RFC) là những giải pháp dinh dưỡng có thể giúp cung cấp sự thiết lập sức khỏe cho vật nuôi. RFC là các thành phần được thu hoạch từ các tế bào nấm men (Saccharomyces cerevisiae) sử dụng những enzyme chuyên biệt trong quá trình sản xuất để đảm bảo khả năng hữu dụng sinh học và độ đồng nhất ở mức cao. Sự thủy phân thuộc enzyme độc quyền này mang lại các Mannan oligosaccharide (MOS), Beta glucans (1,2 - 1,6) và D-Mannose.

Những hợp chất này hiện diện tự nhiên ở tất cả tế bào nấm men nhưng lại không dễ dàng hữu dụng sinh học. Phương pháp chế biến để tinh chế các tế bào nấm men ảnh hưởng đến độ lớn và cấu trúc của các thành phần được giải phóng này, kết quả là có ảnh hưởng đến chức năng và tính khả dụng sinh học. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mỗi RFC có một cách hoạt động và tác động đặc trưng khi cho nhiều loài vật nuôi ăn, gồm bò sữa, bò thịt và gia cầm. Các RFC cũng đã cho thấy ảnh hưởng tích cực đến sự đáp ứng miễn dịch của heo con.

Các RFC là chất cộng thêm không kháng sinh vào thức ăn có thể giúp cung cấp nền tảng sức khỏe cho sự phát triển của động vật. Về bản chất, các RFC hoạt động như một prebiotic bằng cách nuôi các lợi khuẩn trong ruột trong khi ngăn chặn các vị trí gắn kết do mầm bệnh. Thêm các RFC vào khẩu phần vật nuôi trong suốt vòng đời của chúng có thể sẽ giúp cải thiện chức năng miễn dịch bằng việc cung cấp cơ chế phòng vệ chống lại các vi khuẩn gây bệnh. Kết quả là các RFC có thể giúp duy trì sức khỏe ruột và sức khỏe nói chung của vật nuôi, đẩy mạnh khả năng đáp ứng miễn dịch. Vì những thách thức gây bệnh khó để phỏng đoán, nên cho vật nuôi ăn RFC có thể đóng vai như tuyến phòng thủ đầu tiên khi có những thử thách xuất hiện.

 

Giảm những thách thức bệnh

Nghiên cứu chỉ ra rằng các RFC có thể làm giảm tỷ lệ mắc, tính dữ dội và kéo dài của bệnh ký sinh crypto trong ruột gây ra do Cryptosporidium parvum, nguyên nhân dẫn dắt do chứng tiêu chảy ở bê non, tai ương của các nhà sản xuất sữa, không cần quan tâm đến địa điểm (Hình 1). Các RFC cũng chỉ cho thấy có hoạt tính chống lại cầu trùng Eimeria, ký sinh gây tiêu chảy ở những loài khác.                 

Các RFC gắn kết vào các thụ quan của ký sinh Cryptosporidium (có thể những mầm bệnh khác) và ngăn chặn chúng gắn vào vách ruột và gây bệnh. Các ký sinh này sau đó vô hại chuyển qua toàn bộ hệ tiêu hóa. Điều này trợ giúp phá vỡ vòng đời của mầm bệnh và giúp giảm lợi thế của sự tái nhiễm khuẩn. Ngoài ra, các RFC có thể gắn kết hoặc dính vào một số vi khuẩn bệnh và ngăn ngừa sự xâm nhập vào mô kết tràng của bò bằng các dạng huyết thanh học (serovar) khác nhau của E. coli và Salmonella enterica. Bên cạnh đó, một nghiên cứu cho thấy, bê vỗ béo được ăn các RFC yêu cầu điều trị bằng kháng sinh ít hơn do bệnh hô hấp trên bò giảm rõ rệt, một lợi ích quan trọng đối với người sản xuất bò thịt.

Khả năng của các RFC có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe vật nuôi ở nhiều loài là khác nhau. Ví dụ, một nghiên cứu được thực hiện ở Đại học North Carolina đã cho thấy rằng tỷ lệ hiện mắc Salmonella trong phân gà mái giống ăn khẩu phần đối chứng (không có RFC) là 71,4%. Trong khi đó, tỷ lệ Salmonella trong phân gà mái giống ăn khẩu phần có RFC là 0%. Hơn nữa, khi con cháu là gà thịt của những gia cầm giống này ăn khẩu phần giống như cha mẹ chúng (gà giống) thì gà thịt ăn khẩu phần RFC cũng không chứa dấu vết Salmonella nào trong phân. Tuy nhiên, có 12,5% con cháu gà thịt có Salmonella ở manh tràng khi không ăn khẩu phần chứa RFC. Những kết quả ấn tượng tương tự được nhận thấy đối với tác động của các RFC trên bệnh cầu trùng do ký sinh Eimeria gây ra. Những nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng các RFC đã làm giảm thấp sự gắn kết Cryptosporidium parvum (giống Eimeria) vào tế bào biểu mô. Tương tự, các RFC có thể làm giảm thoa trùng (sporozoite) Eimeria gắn vào tế bào biểu mô ruột. Điều này có nghĩa là những thương tổn của ruột giảm và tái sử dụng kén hợp tử nhiều hơn để duy trì sự phát triển miễn dịch. 

       

Vô hiệu hóa ảnh hưởng của độc tố nấm

Tương tự như vậy, các RFC giúp vô hiệu hóa những ảnh hưởng tiêu cực của độc tố nấm mà đôi khi chúng xuất hiện trong thức ăn. Mặc dù độc tố nấm nhìn chung không có ảnh hưởng trực tiếp đến sử dụng kháng sinh, sự hiện diện của chúng trong thành phần thức ăn gây cản trở miễn dịch mà có thể dẫn đến những thách thức nghiêm trọng đối với sức khỏe động vật mà cuối cùng thì cần phải điều trị bằng kháng sinh. Những cách xử trí để giảm thấp tác động của độc tố nấm vì thế cũng ảnh hưởng đến giảm thấp khả năng sử dụng kháng sinh ở trại chăn nuôi.

Điều tra trên toàn cầu gần đây cho thấy có 75% hoặc hơn những thành phần khẩu phần có thể bị nhiễm một hay nhiều loại độc tố nấm. Độc tố nấm là mối bận tâm bởi vì sự hiện diện của chúng trong thức ăn có thể dẫn đến làm giảm ăn vào, sử dụng dưỡng chất bị giảm, sức khỏe ruột bị giảm, ngăn chặn miễn dịch sinh trưởng, năng suất kém và nhiễm trùng kế phát như bệnh tiêu chảy. Đúng ngay lúc cùng với các mầm bệnh, các RFC gắn kết vào các độc tố nấm, như aflatoxin và ngăn chặn chúng từ việc bị hấp thu qua ruột vào dòng máu. Những độc tố này sau đó di chuyển vô hại qua hệ tiêu hóa mà không gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất của vật nuôi.

 

Vai trò của các probiotic

Probiotic là chất cộng thêm vào thức ăn khác mà nó có thể giúp chiến đấu chống lại mầm bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm. Các probiotic là chất cộng thêm vi khuẩn sống có ảnh hưởng có lợi cho vật chủ bằng cách cải thiện sự cân bằng vi khuẩn ruột của nó. Tóm lại, các probiotic là những vi khuẩn tốt sống trong đường dạ dày - ruột. Chúng hoạt động bằng cách cạnh tranh loại trừ, có nghĩa là khi các quần thể đầy đủ các vi khuẩn probiotic hiện diện chúng sẽ làm giảm khả năng của các vi khuẩn gây bệnh làm mất kiểm soát và áp đảo vật chủ. Nói cách dễ hiểu, chúng đẩy mầm bệnh ra. Chúng cũng hoạt động bằng cách ức chế cụ thể trên sự gia tăng gây bệnh.

Các probiotic cho vật nuôi có chung các dòng khác nhau như Bacillus, Lactobacillus, Enterococcus và men Saccharomyces. Vẫn còn nhiều điều để nghiên cứu về những tương tác của chúng với nguồn bệnh, nhưng nó được hiểu là những dòng nào đó của Bacillus đã được xác nhận làm giảm sinh trưởng của những dòng vi khuẩn gây bệnh nào đó, bao gồm E. coli, Clostridium, Streptococcus và Salmonella. Các probiotic giúp ngăn chặn và kiểm soát mầm bệnh dạ dày - ruột hoặc cải thiện năng suất và sản lượng chăn nuôi qua những cơ chế khác nhau. Những dòng có quan hệ gần nhau, chúng có thể khác nhau về cách thức hoạt động.

Các RFC và các probiotic ban tặng cho người chăn nuôi bò thịt, bò sữa, gia cầm và heo những phương tiện và cơ hội thành công, ảnh hưởng tích cực đến chức năng miễn dịch động vật để giúp động vật cải thiện tình trạng tốt hơn để đối phó với những thách thức bệnh tật. Vì thế, vật nuôi sẽ mạnh khỏe hơn và sản xuất tốt hơn. Kết quả là điều này sẽ giúp giảm thấp chi phí sản xuất. Cuối cùng, điều này nâng cao sản lượng giúp nâng cao lợi nhuận chăn nuôi trong khi vẫn duy trì được tính hiệu quả của lợi khí kháng sinh quan trọng cho các thế hệ mai sau.

 

Nhận xét

Rõ ràng, qua thí nghiệm đã dẫn cho thấy sản phẩm tinh chế carbohydrate của nấm men bằng các enzyme có tác dụng ngăn chặn sự bám dính mầm bệnh, vô hiệu hóa độc tố nấm, giúp tăng lợi khuẩn ruột, cải thiện miễn dịch và sức khỏe trên nhiều loài vật nuôi cả gia súc đa vị lẫn độc vị.

Sử dụng những sản phẩm có chất chiết nấm men Vita-Yeast, sản phẩm chứa nấm men Bactozyme và sản phẩm chứa â-glucan Glusome115... của Vemedim Corporation trong khẩu phần gia cầm sẽ giúp tăng cường hấp thu dưỡng chất, ức chế vi khuẩn gây bệnh, đáp ứng miễn dịch tốt, cải thiện sức khỏe và năng suất vật nuôi.

Tài liệu tham khảo

Martinez M (2017) Nutrition the first line of defence.

http://www.allaboutfeed.net/Feed-Additives/Articles/2017/10/Nutrition-The-first-line-of-defence-198342E/?intcmp=related-content

PGS. Bùi Xuân Mến

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vemedim

Gửi bình luận

Gửi Làm lại