Động lực phát triển từ khoa học kỹ thuật

09/04/2015 | 11:50

(Người Chăn Nuôi) - Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc không ngừng sáng tạo và đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống là động lực trực tiếp của sự phát triển. Trong chăn nuôi, khoa học kỹ thuật (KHKT) đóng vai trò quan trọng trực tiếp ảnh hưởng tới khả năng phát triển, vừa giảm chi phí vừa tăng lợi nhuận cho người nuôi.

Tạo giống nuôi mới

Trong ngành chăn nuôi, công tác giống vật nuôi đóng vai trò quan trọng nhất bởi đó là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm. Giống vật nuôi có thể làm tăng năng suất sản xuất của vật nuôi 10 - 50%.

Gia cầm: Hiệu quả do áp dụng công thức lai giữa các giống, giá trị ưu thế lai đã sinh lợi cho ngành chăn nuôi gia cầm thêm 5,5 - 6 nghìn tỷ đồng/năm. Ước tính khoảng 29 - 30% giá trị gia tăng sản lượng thịt, trứng gia cầm là do kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đem lại.

Bò sữa: Giống bò Holstein Friesian (HF) thuần cao sản được nhập nội năm 2001 và đã thích nghi, năng suất tốt với điều kiện Việt Nam. Từ 2009 - 2012, các doanh nghiệp lớn như TH Milk, Vinamilk đã nhập trên 20.000 con bò sữa HF. Ngoài ra, đã chọn lọc và xây dựng được đàn bò sữa hạt nhân cao sản với năng suất sữa cao, tương đương năng suất bò sữa Thái Lan và một số nước trong khu vực. 

Bò thịt: Công nghệ tạo giống bò thịt đã thu được thành quả rõ rệt, các tổ hợp lai hướng thịt giữa bò Vàng lai Brahman với các giống bò chuyên thịt Red Angus và Drought Master tạo ra con lai Zêbu có khả năng tăng trọng cao.

Lợn: Nghiên cứu đã tạo ra các dòng tổng hợp có khả năng sinh sản cao, chất lượng thịt tốt. Tạo ra một số tổ hợp lai mới mang thương hiệu Viện Chăn nuôi như VCN01, VCN02, VCN03, VCN04, VCN23, tăng khối lượng đạt 749 - 785 g/ngày, số con sơ sinh sống cao đạt 11,2 con (VCN04), tỷ lệ nạc đạt 60 - 62%.

Tuy nhiên, hiện nay chất lượng giống vật nuôi ở Việt Nam nhìn chung còn chưa cao, đặc biệt là năng suất chăn nuôi nông hộ còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều.

KHKT giúp chăn nuôi nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất - Ảnh: CTV

 

Chế biến thức ăn chăn nuôi

Trong những năm qua, KHKT đã tạo ra các sản phẩm thức ăn chăn nuôi đảm bảo chất lượng, giá thành cung cấp cho người nuôi. Các loại thức ăn ngày càng được chuyên biệt hóa cho từng đối tượng vật nuôi, cho từng giai đoạn phát triển như thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm giai đoạn giống; thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm công nghiệp; thức ăn nuôi gia cầm đẻ trứng; thức ăn chăn nuôi bò, lợn, dê lấy thịt…

Hiện, trên cả nước có khoảng 230 nhà máy chuyên sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó có 58 nhà máy thuộc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài với 60% sản lượng thức ăn chăn nuôi của cả nước.

 

Phòng và điều trị bệnh

Nghiên cứu và ứng dụng KHKT trong phòng và điều trị bệnh vật nuôi đã và đang là ưu tiên hàng đầu trong lĩnh vực khoa học công nghệ ngành chăn nuôi. Với sự biến đổi về khí hậu, dịch bệnh vật nuôi trong những năm qua cũng đã phát triển theo chiều hướng gia tăng về số lượng, khả năng lây lan từ vật nuôi sang vật nuôi và từ vật nuôi sang người, khả năng phòng và điều trị bệnh ngày càng trở nên khó khăn hơn.

Ứng dụng KHKT ngay từ những bước đầu tiên trong kế hoạch chuẩn bị tiến hành nuôi như khử trùng chuồng trại, phòng trừ dịch bệnh từ con giống, áp dụng quy trình nuôi theo hướng an toàn và đảm bảo vệ sinh môi trường là những yêu cầu cấp thiết cho hộ nuôi. Hiện, các cơ quan đầu ngành về chăn nuôi như Cục Thú y, Viện Chăn nuôi, các Sở NN&PTNT, các Chi cục Thú y tại các địa phương luôn thực hiện các lưu ý và khuyến cáo tới hộ nuôi trong mỗi mùa vụ thả giống, chuyển giao những tiến bộ KHKT về lĩnh vực chăn nuôi tới các hộ dân thông qua các buổi tập huấn, tuyên truyền, tài liệu kỹ thuật… để sớm đưa KHKT vào đời sống chăn nuôi của hộ dân; nhằm giảm thiểu các rủi ro và nâng cao năng suất cũng như sản lượng chăn nuôi.

 

Bảo quản và chế biến sản phẩm sau thu hoạch

Các sản phẩm chăn nuôi sau khi thu hoạch cần phải được tiến hành bảo quản và chế biến phù hợp, đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm trước khi cung cấp ra thị trường trong nước và xuất khẩu. Để đáp ứng yêu cầu trên, KHKT đã từng bước nghiên cứu và hoàn thiện các công nghệ về bảo quản và chế biến sản phẩm từ chăn nuôi như: Công nghệ bảo quản và chế biến thịt xuất khẩu; công nghệ bảo quản và chế biến sữa sau thu hoạch; công nghệ bảo quản và chế biến các sản phẩm cung ứng cho chăn nuôi…

Theo thống kê, cả nước có khoảng 28 nhà máy bảo quản và chế biến quy mô công nghiệp, trong tổng số khoảng 5,2 triệu tấn thịt hơi cung cấp ra thị trường hiện nay mới chỉ có khoảng 10% sản phẩm được qua bảo quản và chế biến. 

Để đạt được mục tiêu này cần phải đầu tư cho công nghệ và máy móc thiết bị chế biến tiên tiến phương tiện bảo quản và vận chuyển thịt vật nuôi sau thu hoạch. Do vậy, KHKT nghiên cứu về quy trình bảo quản, vận chuyển và chế biến sản phẩm từ chăn nuôi cần được ưu tiên phát triển và ứng dụng rộng rãi ngay từ bây giờ.

>> Theo đề án phát triển giống vật nuôi đến năm 2020, tỷ lệ sử dụng giống tiến bộ KHKT trong sản xuất bò thịt và dê đạt 70%; lợn, gia cầm đạt 90%; bò sữa đạt 100%, bò lai 50%.

Kiều Phong

Gửi bình luận

Gửi Làm lại