Chăn nuôi gia cầm: Không “té nước theo mưa”

16/09/2019 | 03:54

(Người Chăn Nuôi) - Dịch ASF đã khiến thị trường thịt heo rơi vào tình trạng cầu lớn hơn cung, xu thế sử dụng gia cầm ngày càng phổ biến mở ra cơ hội cho ngành chăn nuôi gia cầm. Tuy vậy, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu thị trường đều cho rằng việc phát triển nuôi gia cầm quy mô lớn mà không kiểm soát được dịch bệnh và đầu ra cũng sẽ chứa đựng nhiều rủi ro.

Đổ xô nuôi

Chi cục Chăn nuôi và Thú y Đồng Nai cho biết, hiện tổng đàn gia cầm trên địa bàn tỉnh đã đạt 27 triệu con, tăng hàng triệu con so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài việc người chăn nuôi hạn chế nuôi heo vì sợ ASF nên chuyển qua nuôi gia cầm thì rất nhiều dự án đầu tư mới trong chăn nuôi gà công nghiệp cũng được xây dựng trên địa bàn. 

Tại các tỉnh ĐBSCL, người dân cũng lo ngại ASF nên chuyển qua nuôi gà, vịt rất nhiều. Giá trứng gà, trứng vịt tại các tỉnh châu thổ tăng 400 - 500 đồng/trứng so với thời gian trước đây, người dân thấy có lãi nên đua nhau nuôi gà và vịt. 

Tại các tỉnh phía Bắc, ngoài gà, người chăn nuôi cũng nuôi cả thủy cầm. Đơn cử đàn thủy cầm tại huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang đạt khoảng 500 nghìn con, tăng 30% so với năm ngoái. Vốn là một tỉnh đồi núi như Bắc Giang mà người dân tích cực nuôi thủy cầm, cho thấy người nông dân đang muốn tìm những sản phẩm mới thay thế đàn heo bị dịch bệnh đã bị tiêu hủy. Sở dĩ nuôi thủy cầm được chú ý là do dư luận trong nhân dân cho rằng, gà dễ bị dịch cúm hơn vịt, ngoài ra nuôi vịt lấy thịt và trứng cũng là một xu hướng mới. Giá vịt trên thị trường đang khoảng 43.000 đồng/kg, cao hơn năm ngoái 10 nghìn đồng/kg.

 Thống kê của Cục Chăn nuôi, tổng đàn gia cầm của cả nước trong 6 tháng qua đã tăng 7,5%; sản lượng trứng gia cầm đạt gần 7 tỷ quả, tăng 11,4%. 

Riêng Hà Nội, hiện nay tổng đàn gia cầm đạt xấp xỉ 32 triệu con, tăng khoảng 1 triệu con so với cùng kỳ năm 2018.

Người dân cần cẩn trọng khi nuôi gia cầm - Ảnh: IE

 Tiềm năng và thách thức

Chăn nuôi gia cầm được xem là rất tiềm năng và đúng xu thế thời đại. Hiện nay thịt heo vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 70% cơ cấu sản lượng thịt của Việt Nam, tuy nhiên, một chuyên gia của Cục Chăn nuôi mới đây cho biết “thực tế tỷ trọng thịt heo chỉ còn khoảng 65%”. Tỷ trọng thịt gia cầm tại Việt Nam rất thấp, dưới 7%, trong khi đó, các nước phát triển, tỷ lệ gia cầm chiếm 40% tổng sản lượng thịt. Việc tăng tỷ lệ thịt gia cầm là khoa học và hợp lý. Bởi vậy, việc các địa phương tích cực chuyển đổi từ nuôi heo sang nuôi gia cầm là điều dễ hiểu. Song, thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là nguy cơ dịch bệnh trên gia cầm. Năm 2003, bệnh cúm gia cầm A/H5N1 đã gây thiệt hại hơn 45 triệu con gia cầm.  Virus cúm gia cầm đã lây nhiễm cho 127 người, trong đó có 64 người tử vong. Như vậy, so với ASF vốn không nguy hiểm cho người thì dịch cúm gia cầm nguy hiểm hơn rất nhiều. 

Từ đầu năm 2019 đến nay, bệnh cúm gia cầm (do các chủng virus A/H5N1 và A/H5N6) đã xảy ra tại 13 xã của 11 tỉnh, thành phố; buộc phải tiêu hủy trên 23.000 con gia cầm. Tỷ lệ lưu hành virus cúm gia cầm tương đối cao (khoảng 2% tổng số mẫu xét nghiệm).

 

 Bài toán cung cầu

Mặc dù việc tiêu hủy 3 triệu con heo do nhiễm ASF mở ra thị trường lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm, thủy cầm, song không hẳn là một cơ hội vàng. Vì ngoài sản phẩm gia cầm thì các sản phẩm thủy sản cũng được tiêu thụ rất nhiều. 

Đầu năm nay, nhiều người dân nuôi vịt lấy trứng tại tỉnh Đồng Tháp bị thua lỗ nặng khi đầu tư nuôi quá nhiều. Bình quân, một gia đình nuôi 1.000 con vịt đẻ lấy trứng, mỗi ngày lỗ từ 300.000 - 400.000 đồng. Nguyên do là giá cả thức ăn đầu vào nuôi vịt công nghiệp khá cao, chi phí thức ăn nuôi 1.000 con vịt là 1 triệu đồng/ngày. Trước kia, người dân nuôi vịt chạy đồng, giảm chi phí thức ăn. Nay chuyển qua nuôi công nghiệp rất tốn kém, dẫn đến thua lỗ.  Đàn vịt ở tỉnh Đồng Tháp hiện hơn 7 triệu con và sản lượng hơn 293 triệu quả trứng/năm. Ngoài xuất khẩu trứng vịt muối (chỉ chiếm 10%), còn lại cung cấp cho thị trường trong nước. Song thói quen sử dụng trứng vịt vẫn còn chưa phổ biến. Tỉnh này mở hướng tiêu thụ tại TP Hồ Chí Minh, nhưng mới chỉ một số tổ hợp được Sở Công thương TP Hồ Chí Minh cấp mã truy xuất nguồn gốc trứng.

Chăn nuôi vịt đang đứng thứ hai trong cơ cấu chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam, và các tỉnh Đồng bằng sông Hồng cũng đang chuyển mạnh sang nuôi vịt, song khác với nuôi gà, hiện ngành chăn nuôi vịt vẫn còn rất nhỏ lẻ và thiếu con giống chất lượng. 

 

 Liên kết chuỗi

Tại các tỉnh khu vực Đông Nam bộ như Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, xu thế hiện nay là chăn nuôi gà, vịt theo chuỗi. Trong đó, các nhà máy giết mổ chế biến tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sẽ làm hạt nhân, các hợp tác xã, trang trại và người nông dân sẽ chăn nuôi gà vịt cung ứng cho các nhà máy và doanh nghiệp theo xu hướng “công nhân làm nông nghiệp”. Việc xuất khẩu gà tại khu vực Đông Nam bộ sang Nhật Bản cũng thực hiện theo quy trình này, trong đó con giống và thức ăn sẽ được nhà máy cung ứng cho các trang trại.  Mô hình liên kết chuỗi sẽ giảm được rủi ro, do người nông dân không phải lo đầu ra và các nhà máy sẽ sản xuất theo các đơn đặt hàng từ siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm và xuất khẩu. Sản phẩm được truy xuất nguồn gốc. 

Tập đoàn Mavin hiện sở hữu chuỗi giá trị khép kín “Từ nông trại tới bàn ăn”, cung cấp con giống chất lượng cao, có tốc độ tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt; áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến, tự động hóa trong nhiều khâu sản xuất nhờ đó giảm chi phí; các hộ nông dân được hỗ trợ cung cấp thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y chất lượng cao và được bao tiêu sản phẩm đầu ra, nhờ đó có thể ổn định thu nhập, bất kể biến động của thị trường. Mavin đạt tăng trưởng với tỷ lệ 150% mỗi năm, với 100 trang trại và chuẩn bị xuất khẩu thịt vịt. Mô hình của Mavin hay Ba Huân và các doanh nghiệp khác đầu tư vào ngành chăn nuôi gia cầm thủy cầm theo hướng huy động tối đa sức dân và các hợp tác xã, liên kết với nhà máy và đảm bảo đầu ra được các địa phương đánh giá cao. Trao đổi với phóng viên, lãnh đạo Công ty Ba Huân cũng cho biết sự thành công của Công ty này nhờ rất nhiều vào các hợp tác xã và các địa phương, các trang trại đã đồng lòng đổi mới công nghệ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. 

Trần Anh

Gửi bình luận

Gửi Làm lại