Chăn nuôi an toàn sinh học: Hạn chế dịch bệnh, giảm thiểu rủi ro

23/01/2019 | 04:01

(Người Chăn Nuôi) - “Chăn nuôi an toàn sinh học là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi”, đó là chia sẻ của ông Pawin Padungtod (ảnh), Điều phối viên Kỹ thuật Cao cấp của Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát khẩn cấp các Bệnh động vật xuyên biên giới (ECTAD) thuộc Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam.

Thưa ông, ông đánh giá thế nào về cơ hội và thách thức của ngành chăn nuôi Việt Nam?

Trong 10 năm qua, dân số Việt Nam tăng từ 83,1 triệu người vào năm 2005 lên 93,4 triệu người năm 2015, dẫn đến việc tiêu thụ thịt, sữa và trứng cao hơn. Nhu cầu tiêu thụ đạm từ động vật được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng song song với tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn cho ngành chăn nuôi.


Để phát triển bền vững, ngành chăn nuôi đòi hỏi phải có công nghệ tốt hơn    Ảnh: Wattagnet
 

Chúng ta có thể thấy rằng, ngày càng có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thịt gia súc và gia cầm, mở ra tương lai đầy hứa hẹn cho ngành chăn nuôi. Năm 2017 chứng kiến lần đầu tiên Việt Nam có thể xuất khẩu thịt gà sang Nhật Bản và năm 2018 cũng đánh dấu lần đầu tiên thịt heo Việt Nam được xuất khẩu sang Myanmar. Những cột mốc này là bằng chứng về khả năng cải thiện về chất lượng và an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp chăn nuôi. Điều này sẽ giúp các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam tiến xa hơn vào thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng, để phát triển bền vững, ngành chăn nuôi đòi hỏi phải có công nghệ tốt hơn và nhiều nguồn vốn hơn, những yếu tố mà các nhà sản xuất và đầu tư trong nước thường thiếu.

Trong những năm qua, FAO ECTAD đã hỗ trợ Bộ NN&PTNT Việt Nam trong việc ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh động vật, đặc biệt là với dịch cúm gia cầm độc lực cao (HPAI). Theo quan điểm của chúng tôi, ngành chăn nuôi đang đối phó với một trong những thách thức chính là: Phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh thực sự hiệu quả. Ngành chăn nuôi đang phải đối phó với sự xuất hiện lặp lại khá phổ biến của dịch HPAI và các mối đe dọa mới nổi khác như virus H7N9 và Dịch tả heo châu Phi (ASF). Những thách thức khác mà chúng ta có thể thấy là chăn nuôi trong nước phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu làm thức ăn chăn nuôi; Khâu chế biến thực phẩm và giết mổ động vật chưa được đầu tư đầy đủ; Năng lực quản lý chất thải thấp để đảm bảo vệ sinh và an toàn. Điều đáng chú ý là các sản phẩm chăn nuôi trong nước đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt sản phẩm nhập khẩu về giá cả, chất lượng và an toàn thực phẩm, đặc biệt là khi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực, Việt Nam sẽ phải sửa đổi Luật An toàn Thực phẩm để đáp ứng các cam kết của CPTPP.

Như ông nói thì có thể thấy, dịch bệnh đang là một trong những thách thức lớn đe dọa đến sự phát triền vững của ngành chăn nuôi Việt Nam?

Đúng, tôi đồng ý rằng các bệnh động vật và bệnh động vật lây nhiễm sang người là những thách thức lớn. Ví dụ, H5N1 và H7N9 ở gia cầm; ASF có thể dẫn đến thiệt hại trực tiếp cho người chăn nuôi, chúng ta buộc phải tiêu hủy gia súc và gia cầm nhiễm bệnh để kiểm soát dịch bệnh. Những bệnh này cũng có thể ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng và giá thực phẩm ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, các yếu tố như biến đổi khí hậu, mối quan tâm về môi trường, an toàn thực phẩm, các hiệp định thương mại quốc tế và kháng kháng sinh cũng là những thách thức lớn.

Hiện nay phần lớn chăn nuôi ở Việt Nam vẫn là quy mô nhỏ, điều này liệu có thể dẫn đến việc phát sinh dịch bệnh hay không, thưa ông?

Quy mô chăn nuôi liên quan ít đến việc có thể kiểm soát dịch bệnh hay không, mà chủ yếu là do cơ sở hạ tầng và thực hành an toàn sinh học của các cơ sở chăn nuôi có vấn đề. Do các cơ sở chăn nuôi quy mô nhỏ thường không đầu tư đúng mức cho an toàn sinh học như kiểm soát lối ra vào của khu chăn nuôi cho động vật và con người, đảm bảo thực hiện tiêm phòng đầy đủ, kịp thời và áp dụng các thực hành chăn nuôi tốt. Với sự quan tâm và đầu tư kém, mầm bệnh hoàn toàn có thể xâm nhập vào khu chăn nuôi gây bệnh cho động vật và thậm chí là cho con người.

Chăn nuôi theo hướng tập trung, quy mô lớn được cho là giúp người chăn nuôi chủ động phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh môi trường, điều này liệu có đúng không, thưa ông?

Chăn nuôi quy mô lớn sẽ chỉ làm giảm rủi ro và ngăn ngừa các bệnh với điều kiện áp dụång an toàn sinh học tốt và thực hiện các biện pháp phòng ngừa khác như quản lý tốt khu chăn nuôi, đảm bảo dinh dưỡng và tiêm phòng đầy đủ. Cơ sở hạ tầng của các trại chăn nuôi quy mô lớn có thể giúp các biện pháp an toàn sinh học được thực hành dễ dàng hơn. Ví dụ, họ có thể xây hàng rào để ngăn du khách hoặc động vật không được vào khu vực nuôi. Tuy nhiên, các cơ sở nhỏ hoàn toàn có thể dựng hàng rào ngăn cách phù hợp.

 

Vậy an toàn sinh học có phải là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi?

Đúng vậy, chương trình ECTAD khuyến nghị người chăn nuôi ở Việt Nam thực hiện nghiêm túc các biện pháp an toàn sinh học tốt như: Kiểm soát lối ra vào của động vật và con người trong và ngoài khu chăn nuôi; Giữ cho khu vực chăn nuôi luôn sạch sẽ và đảm bảo thông gió thích hợp; Thực hiện các biện pháp vệ sinh, khử trùng và tiêm phòng hiệu quả.

Cùng với chương trình tiêm phòng và dinh dưỡng tốt, những biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả này có thể giúp bảo vệ động vật, giảm 80% khả năng nhiễm vi khuẩn có hại và các sự cố gây ra các bệnh phổ biến như Mysoplasmosis, Salmonellosis, Colibasillosis.

Hiện nay FAO đang có những chương trình gì để hỗ trợ cho người chăn nuôi Việt Nam trong công tác phòng chống dịch bệnh? Cá nhân ông có lời khuyên nào dành cho người chăn nuôi?

Chương trình ECTAD của FAO được thành lập từ năm 2006 để hỗ trợ Chính phủ Việt Nam chống lại sự lây lan và kiểm soát dịch cúm gia cầm độc lực cao H5N1. Các dự án của chúng tôi tập trung vào việc giảm thiểu rủi ro lây truyền dịch bệnh thông qua chuỗi sản xuất động vật, giám sát, truyền thông nguy cơ và điều phối đa ngành. Chúng tôi đang làm việc cùng với Chính phủ, các đối tác và người chăn nuôi để phát triển năng lực phòng chống dịch bệnh, phòng ngừa, phát hiện và ứng phó kịp thời.

Phối hợp cùng với Cục Chăn nuôi (DLP) và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Chương trình FAO ECTAD đã giới thiệu các mô hình chăn nuôi gia cầm với tiêu chuẩn an toàn sinh học cho nông dân. Chúng tôi đã hỗ trợ DLP ban hành các hướng dẫn an toàn sinh học quốc gia cho các trại giống quy mô vừa và nhỏ như một phần của chiến lược giảm thiểu rủi ro bệnh tật chống lại cúm gia cầm độc lực cao và các bệnh lây truyền từ động vật sang người khác.

Một trong những mục tiêu chính thuộc chương trình nâng cao năng lực ngành thú y, Chương trình ECTAD của FAO ưu tiên đào tạo cán bộ thú y địa phương để họ có thể cung cấp dịch vụ thú y tốt hơn cho nông dân. Chúng tôi tổ chức các hội thảo trao đổi chuyên môn kỹ thuật giữa các Chính phủ Việt Nam, Campuchia, Lào và Trung Quốc để chia sẻ thông tin và tìm các giải pháp nhằm giảm lây lan qua các bệnh động vật và các bệnh lây truyền từ động vật sang người khác xuyên biên giới.

>>  “Để cải thiện thu nhập từ chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe của cả con người và động vật, chúng tôi khuyên nông dân Việt Nam nên tiếp tục cải thiện thực hành chăn nuôi với an toàn sinh học tốt hơn, dinh dưỡng tốt hơn cho đàn gia súc, gia cầm; Sử dụng kháng sinh có trách nhiệm và học hỏi từ những nông dân thành công khác”.

Trân trọng cảm ơn!

 

Nguyễn Thúy Hằng

(Thực hiện)

Gửi bình luận

Gửi Làm lại