Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của heo con

02/12/2019 | 02:50

(Người Chăn Nuôi) - Giống như các chất dinh dưỡng quan trọng khác (năng lượng, protein, khoáng chất và vitamin) nước là rất cần thiết cho heo. Nước có tầm quan trọng lớn trong quá trình sinh trưởng và phát triển của heo con. Thực tế cho thấy, heo có thể sống lâu hơn nhiều khi bị thiếu thức ăn so với khi không có nước.

Nước chiếm khoảng 80% tổng khối lượng cơ thể của heo con sơ sinh và 65% ở heo choai; con số này giảm xuống còn khoảng 52% ở heo xuất chuồng do hàm lượng nước trong chất béo thấp hơn so với mô cơ.

Nước thường được cung cấp tự do. Điều này rất thuận tiện từ góc độ quản lý và xuất phát từ niềm tin rằng, miễn là hệ thống cung cấp đầy đủ, heo sẽ uống nước theo nhu cầu. Người ta cũng cho rằng tiêu thụ nước vượt quá nhu cầu không làm tăng chi phí đáng kể cho người sản xuất hoặc gây nguy hiểm cho heo. Cả hai giả định trên đều đúng.

Heo thu nhận nước từ 3 nguồn: nước có trong thức ăn, nước thu nhận qua đường uống và nước được tạo ra trong quá trình trao đổi chất của cơ thể. bảng 1, phản ánh tình trạng cân bằng nước ở heo sinh trưởng.

 

Nhu cầu nước

Nhu cầu nước của heo chưa bao giờ thực sự được xác định chính xác. Một phần, do giả định ở trên - rằng heo sẽ uống khi chúng cần nước - vì vậy tất cả những gì cần thiết là một hệ thống phân phối nước đầy đủ.

Nước đã được chứng minh là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và sau đó là lợi nhuận (bảng 2). Tốc độ dòng chảy không chỉ ảnh hưởng đến lượng nước thu nhận mà còn ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận. Khi tốc độ dòng chảy hạn chế, heo con trong hầu hết trường hợp sẽ không biết kéo dài thời gian uống để thu nhận được nhiều nước hơn.

Thu nhận nước tự do ở heo sinh trưởng khi được cho ăn tự do vào khoảng 2,2 - 2,8 lần thu nhận thức ăn. Nước cần được bổ sung nhiều hơn trên mức thu nhận thức ăn, để bù đắp do tác động của môi trường hoặc giúp heo đối phó với các vấn đề lên quan đến sức khỏe. Thật khó để xác định được nhu cầu nước khi nhiệt độ môi trường cao bởi hầu hết các nghiên cứu chỉ đo lượng nước hao hụt, bao gồm nước rơi vãi, mà không xác định được lượng nước thu nhận chính xác. Lượng nước thu nhận thực tế tăng từ 15 - 75% ở nhiệt độ môi trường cao, nhưng lượng nước rơi vãi đáng kể, do đó lượng nước hao hụt có thể tăng 3 - 4 lần.  

Điều quan trọng cần nhớ là heo không uống chỉ để đáp ứng nhu cầu sinh lý của chúng đối với nước. Heo cũng sẽ uống nước để giảm bớt cảm giác đói hoặc chán. Không nên đánh giá thấp tác động của việc này; buồn chán và đói có thể tăng lượng nước uống nhiều lần so với yêu cầu cơ bản.

Tiêu thụ nước quá mức, và quan trọng hơn, lượng nước rơi vãi quá nhiều đang là vấn đề được quan tâm; chi phí về xử lý nước thải đang tăng lên cùng với các mối quan tâm về môi trường và chi phí bơm nước thải ra đồng cũng tăng do chi phí nhân công và nhiên liệu cao hơn.

Mức nước tiêu thụ dưới nhu cầu liệu có là vấn đề? Ngày càng có nhiều dữ liệu cho thấy rằng ngay cả trong điều kiện uống tự do, heo không phải lúc nào cũng uống nhiều nước như chúng cần để có sức khỏe tốt và năng suất tối đa. Cung cấp nước uống tự do có thể không phải lúc nào cũng đảm bảo lượng thu nhận thức ăn tối đa.

Đo lượng nước tiêu thụ chính xác là không dễ dàng. Đơn giản chỉ cần đặt một đồng hồ nước trong hệ thống cấp nước sẽ bỏ qua hai vấn đề quan trọng: lượng nước bị lãng phí và sự thiếu chính xác của hầu hết các đồng hồ ở tốc độ dòng chảy rất chậm hoặc không liên tục.

 

Cung cấp nước

Núm uống là phương pháp phổ biến nhất để cung cấp nước cho heo. Chúng có chi phí tương đối thấp, yêu cầu bảo trì ít trong hầu hết các điều kiện và thường không có lỗi. Tuy nhiên, núm uống cũng có vấn đề của nó. Chúng làm tăng lượng nước thải và không thể dễ dàng theo dõi.

Cấp nước kiểu máng uống đang ngày càng phổ biến, chủ yếu là do chúng tiết kiệm nước và một phần do dễ theo dõi hàng ngày. Tuy nhiên, chi phí lắp đặt ban đầu lại vượt xa chi phí lắp đặt núm uống.

Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng tốc độ dòng chảy của núm uống quá chậm có thể làm giảm lượng nước thu nhận và, dưới sự hạn chế lượng nước thu nhận, tốc độ tăng trưởng cũng bị hạn chế nghiêm trọng (bảng 2).

Chú ý đến việc duy trì từng núm uống, để đảm bảo cung cấp nước liên tục và ổn định, có lẽ nhận được quá ít sự chú ý.

Cả kiểu cấp nước và chất lượng nước đều có thể ảnh hưởng đến lượng nước tiêu thụ (biến mất) - xem bảng 3

 

Chất lượng nước

Về cơ bản có 3 tiêu chí chính để đánh giá chất lượng nước: vi sinh vật, tính vật lý và hóa học. Trong mỗi tiêu chí, các mục riêng lẻ liên quan đến an toàn và/hoặc cảm quan. Điều rất quan trọng để nhận ra rằng một số tiêu chuẩn được thiết lập dựa trên các vấn đề về cảm quan, mà không phải là an toàn.

 

Vi sinh vật

Trong nước có nhiều vi sinh vật, kể cả vi khuẩn và virus. Ví dụ như Salmonella spp, Vibrio cholera, Leptospira spp và Escherichia coli. Cũng có thể nước mang theo động vật nguyên sinh gây bệnh, cũng như trứng hoặc ấu trùng của giun đường ruột.

 

Tiêu chuẩn vật lý

Tính chất vật lý của nước liên quan nhiều đến cảm quan hơn là sức khỏe hoặc an toàn. Màu sắc của nước ít liên quan đến khả năng chấp nhận, nhưng có thể là dấu hiệu của sự ô nhiễm khác. Độ đục liên quan đến các hạt bụi lơ lửng một phút trong nước.

 

Tiêu chuẩn hóa học

Tất cả các khoáng chất làm tăng Tổng chất rắn hòa tan (TDS) nhưng chỉ một số ít gây ra các vấn đề sức khỏe; ví dụ, canxi và magiê đóng góp cả vào độ cứng và TDS, nhưng, trừ khi có ở mức cực cao, không có tác dụng phụ đối với sức khỏe của heo. Ngược lại, sunfat, một tác nhân khác làm tăng TDS, có thể dẫn đến tình trạng tiêu chảy nghiêm trọng ngay cả khi ở nồng độ vừa phải. Người ta có thể kết luận rằng nếu TDS thấp, nước có chất lượng tốt. Nếu TDS ở mức trung bình đến cao, nó vẫn có thể an toàn tuyệt đối để uống, tùy thuộc vào khoáng chất nào có mặt trong nước. Vì lý do này, nếu TDS trên 1.000 ppm, cần phải phân tích thêm để xác định xem những khoáng chất có trong nước có gây ảnh hưởng đến sức khỏe cho heo hay không.

 

Ảnh hưởng của nước kém chất lượng

Ảnh hưởng của nước kém chất lượng là không dễ dự đoán, như bảng 4 cho thấy. Heo phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào việc chúng đang nhận thức ăn có bổ sung kháng sinh hay không có kháng sinh.

Gửi bình luận

Gửi Làm lại